Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG ĐIỀU CHỈNH VIỆC GÓP VỐN BẰNG GIÁ TRỊ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀO DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM 1. Khái quát chung về góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất vào doanh nghiệp 1. Khái niệm, đặc điểm quyền sử dụng đất và giá trị quyền sử dụng đất Ở nước ta, cụm từ “Quyền sử dụng đất” (QSDĐ) và góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất là hai khái niệm chưa được định nghĩa cụ thể, chính thức trong Luật thực định. Nhìn nhận theo phương diện pháp lý, lần đầu tiên trong Bộ luật dân sự năm 1995 các nhà làm luật chỉ đề cập cụm từ “quyền sử dụng” chứ không có khái niệm “quyền sử dụng đất”.
Định nghĩa ấy được hiểu như sau: Quyền sử dụng là quyền của chủ sử dụng khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản. Người không phải là chủ sử dụng cũng có quyền sử dụng tài sản trong các trường hợp được chủ sử dụng chuyển giao quyền sử dụng hoặc do pháp luật quy định1. Trong suốt quá trình thực hiện quyền sử dụng của công dân, vấn đề này được kế thừa phát huy để sửa đổi, bổ sung hoàn thiện hơn khái niệm “quyền sử dụng” của Bộ luật dân sự năm 2005. Mãi đến năm 2015, khi mà Bộ luật dân sự được quốc hội ban hành, cụm từ này cũng được thống nhất về cách hiểu phù hợp với thực tiễn giao dịch trong nền kinh tế thị trường.
Theo đó, Quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản. Quyền sử dụng có thể được chuyển giao cho người khác theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật2. Như vậy Bộ luật dân sự là văn bản gốc để ban hành các văn bản luật chuyên ngành điều chỉnh mối quan hệ xã hội liên quan đến quyền sử dụng đất. Tất cả đều không có khái niệm cụ thể, nó chỉ được hiểu chung đó là quyền sử dụng tài sản và mặc nhiên quyền sử dụng đất chính là quyền tài sản.
Điểm mới ở đây là BLDS năm 2015 ghi nhận một cách rõ ràng trong quy định chung, chứ không ghi nhận trong một chế định cụ thể giống như BLDS năm 2005”3 1 Xem điều 198, Bộ luật dân sự năm 1995 2 Xem Điều 189, Bộ luật dân sự năm 2015 3 Xem Đỗ Văn Đại (Cb), Bình luận khoa học những điểm mới của BLDS 2015, Nxb Hồng Đức, H. 126 Remove Watermark Wondershare PDFelement 10 Việc làm rõ nội hàm bản chất của quyền sử dụng đất cũng như khái niệm, đặc điểm góp vốn bằng giá trị QSDĐ trong giai đoạn hiện nay là hết sức cần thiết và là tiền đề hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu tiếp theo của đề tài. Thứ nhất: Khái niệm và đặc điểm quyền sử dụng đất * Khái niệm quyền sử dụng đất Theo phương diện khoa học pháp lý, từ điển luật học xác định: "Quyền sử dụng đất là quyền của các chủ thể được khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi ích từ việc sử dụng đất được Nhà nước giao, cho thuê hoặc được chuyển giao từ chủ thể khác thông qua việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho”4. Từ trước đến nay, quyền sử dụng đất không được định nghĩa cụ thể trong các văn bản pháp luật đất đai, thực chất, rất nhiều nhà nghiên cứu tập trung khai thác các quy định của pháp luật liên quan đến khái niệm quyền sử dụng đất như Bộ Luật dân sự, Luật đất đai nhưng vẫn chưa thống nhất được khái niệm chung về quyền sử dụng đất.
Do đó, khó thống nhất chung trong cách hiểu về thuật ngữ này trong thực tiễn áp dụng pháp luật liên quan đến đất đai. Tác giả cho rằng, để khoa học hơn, khi nghiên cứu khái niệm “quyền sử dụng đất” cần nghiên cứu theo 03 hướng tiếp cận khác nhau về quyền sử dụng đất, như sau: (i) quyền sử dụng đất là vật quyền; (ii) quyền sử dụng đất là một trong những nội dung của QSH và (iii) quyền sử dụng đất là tài sản5 Quan niệm tiếp cận thứ nhất coi quyền sử dụng đất là một vật quyền: Vật quyền là một khái niệm có nguồn gốc xuất hiện đầu tiên trong lịch sử loài người chính là bộ Luật la mã cổ đại. Cho đến nay, thuật ngữ “vật quyền” cũng gặp nhiều khó khăn trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu để thống nhất cách hiểu cụ thể về nó. Theo cuốn từ điển Luật học thì vật quyền là quyền trực tiếp trên vật và có tác dụng mang lại cho người có quyền toàn bộ hoặc một phần tiện ích kinh tế đó.
Cũng theo nội dung giải thích về vật quyền thì vật quyền bao gồm hai loại, vật quyền chính và vật quyền phụ. 4 Viện Khoa học pháp lý, Từ điển Luật học (trang 655), Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa và Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội 2006. 5 Nguyễn Thùy Trang (2016), “Quyền sử dụng đất - một số quan điểm tiếp cận và đề xuất hướng giải quyết trong khoa học pháp lý của Việt Nam” Tạp chí khoa học pháp lý, (số 4) tr. Remove Watermark Wondershare PDFelement 11 Trong thực tiễn, vật quyền được hiểu theo hai nghĩa khác nhau: - Một là theo nghĩa chủ quan thì vật quyền là quyền của một chủ thể nhất định đối với một tài sản.
Theo nghĩa này thì vật quyền là quyền đối với vật, khác với trái quyền là quyền của một người yêu cầu một người khác thực hiện hoặc không thực hiện một hành vi nhất định (quyền đối nhân). – Hai là theo nghĩa khách quan thì vật quyền là toàn bộ các quy phạm pháp luật quy định về vật với tư cách là đối tượng của vật quyền, nội dung của các loại vật quyền, căn cứ phát sinh, chấm dứt các loại vật quyền, nguyên tắc thực hiện, bảo vệ vật quyền, các hạn chế mà người có vật quyền phải tuân thủ khi thực hiện các quyền năng của mình,… Thừa kế những nội dung này thì Bộ luật dân sự 2015 có những quy định về vât quyền, đó là quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản, do vậy rất nhiều quan điểm không đồng ý với cách tiếp cận quyền sử dụng đất là một vật quyền. Ở lĩnh vực đất đai thì đất đai không phải là vật do con người tạo ra mà là do con người tác động làm biến đổi đất đai theo nhu cầu sử dụng của chính mình. Hiến pháp nước ta quy định, chỉ có Nhà nước là đại diện chủ sở hữu đất đai, còn NSDĐ không có QSH đất đai, nhưng có quyền sử dụng đất.
Quyền sử dụng đất không thể là vật cụ thể mà là quyền tài sản. Cách tiếp cận quyền sử dụng đất là vật quyền sẽ không logic giữa lý luận lẫn thực tiễn, nghĩa là cơ sở lý luận mà văn bản gốc là Hiến pháp 2013 cũng như các văn bản luật chuyên ngành khác cũng xuất phát từ thực tiễn để khẳng định quyền sử dụng đất là quyền của mọi người dân trên cơ sở đất đai là của nhà nước. Quan niệm tiếp cận thứ hai, coi quyền sử dụng đất là một nội dung của QSH. Tác giả đồng ý với nội dung giáo trình Luật đất đai của Đại học Luật Hà Nội khi bàn về quyền sở hữu đất đai hiện nay.
Tức là quyền sử dụng đất đất đai là quyền ban đầu, còn quyền sử dụng đất là quyền phát sinh được xuất hiện sau đó. QSH đất đai là một loại quyền trọn vẹn, đầy đủ, còn quyền sử dụng đất là một loại quyền không trọn vẹn, không đầy đủ. Ở góc độ so sánh cụm từ “quyền sử dụng đất và quyền sử dụng” giữa LĐĐ và BLD được xuất hiện lần đầu tại điều 198 BLDS năm 1995 của nước ta, quy định như Remove Watermark Wondershare PDFelement 12 sau: “Quyền sử dụng là quyền của chủ sở hữu khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản. Người không phải là chủ sở hữu cũng có quyền sử dụng tài sản trong các trường hợp được chủ sở hữu chuyển giao quyền sử dụng hoặc do pháp luật quy định”6.
Trước khi luật đất đai hiện hành ra đời, trong giáo trình luật đất đai của trường Đại học Luật Hà Nội có quan điểm cho rằng: “Quyền sử dụng đất của Nhà nước phát sinh dựa trên cơ sở Nhà nước là đại diện chủ sở hữu đất đai nên quyền sử dụng đất này là vĩnh viễn, trọn vẹn và không bị ai hạn chế, còn quyền sử dụng đất của NSDĐ xuất hiện khi được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, cho phép nhận chuyển QSDĐ hoặc công nhận quyền sử dụng đất. và phụ thuộc vào ý chí của Nhà nước. Vì vậy, quyền sử dụng đất của họ bị Nhà nước hạn chế bởi diện tích, thời hạn và mục đích sử dụng. Nếu quyền sử dụng đất của Nhà nước mang tính gián tiếp và trừu tượng thì ngược lại, quyền sử dụng đất của người sử dụng lại mang tính chất trực tiếp và cụ thể” 7.
Như vậy, quyền sử dụng đất của NSDĐ được phát sinh từ QSH của Nhà nước. Tại vì quyền sử dụng đất là quyền phát sinh từ QSH nên NSDĐ có các quyền năng, mà nội dung của các quyền năng này rất gần với QSH. Cho đến thời điểm hiện nay, khi áp dụng văn bản hợp nhất Luật đất đai năm 2018 trong thực tiễn, quan điểm đó cũng được kế thừa và phát huy cả trong quy chuẩn pháp lý cũng như thực tiễn, quyền sử dụng đất chính là QSH đất đai một cách hạn chế. Dưới góc nhìn từ chủ sở hữu là Nhà nước đối với một thửa đất cụ thể Tác giả đồng quan điểm với lập luận khi cho rằng: trên thửa đất ấy cùng có hai chủ thể là (i) chủ sở hữu là Nhà nước và (ii) NSDĐ.
Nghĩa là NSDĐ có các quyền nhưng phải tuân thủ và tôn trọng các quyền của chủ sở hữu, ví dụ như sử dụng đất đúng mục đích, đúng quy hoạch, trong trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất thì phải được chủ sở hữu đồng ý, xây dựng công trình trên đất mà loại công trình đó theo quy định của pháp luật về xây dựng phải xin phép, thì NSDĐ phải xin phép. Cách tiếp cận thứ hai coi quyền sử dụng đất là tài sản: 6 Trong BLDS năm 2005 và BLDS năm 2015 khái niệm quyền sử dụng có sự thay đổi “Quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản. Quyền sử dụng có thể được chuyển giao cho người khác theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật”, nghĩa là đã bỏ cụm từ “.là quyền của chủ sở hữu.” việc bỏ cụm từ này là cần thiết và phù hợp.