Quy Định Pháp Luật Về Góp Vốn Bằng Quyền Sử Dụng Đất Vào Doanh Nghiệp Ở Việt Nam

Chuyên khảo luật học phân tích Pháp luật hiện hành điều chỉnh việc góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất vào doanh nghiệp ở việt, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng

Chuyên ngành

Khoa Luật Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học Cấp Cơ Sở

2022

179
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

PHẦN MỞ ĐẦU

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Tình hình nghiên cứu đề tài

1.3. Mục đích nghiên cứu của đề tài

1.4. Phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu

1.5. Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài

1.6. Kết cấu đề tài

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG ĐIỀU CHỈNH VIỆC GÓP VỐN BẰNG GIÁ TRỊ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀO DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM

1.1. Khái quát chung về góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất vào doanh nghiệp

1.2. Khái niệm, đặc điểm quyền sử dụng đất và giá trị quyền sử dụng đất

1.3. Khái niệm, đặc điểm góp vốn vào doanh nghiệp để hoạt động kinh doanh

1.4. Khái niệm, đặc điểm góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất vào hoạt động kinh doanh

1.5. Quá trình hình thành và phát triển pháp luật điều chỉnh góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất vào doanh nghiệp

1.5.1. Giai đoạn từ năm 1986 đến trước khi Luật đất đai năm 1993 có hiệu lực thi hành

1.5.2. Giai đoạn từ khi Luật đất đai năm 1993 đến trước thời điểm sửa đổi Luật đất đai năm 1998 có hiệu lực từ ngày 01/1/1999

1.5.3. Giai đoạn từ ngày 01/01/199 đến ngày Luật sửa đổi Luật đất đai năm 2003 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2004

1.5.4. Giai đoạn kể từ ngày 01/7/2004, đến ngày sửa đổi bổ sung một số điều của Luật đất đai 2018 cho đến nay

1.6. Nội dung quy định của pháp luật hiện hành điều chỉnh việc góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất vào doanh nghiệp

1.6.1. Xác định giá trị quyền sử dụng đất đủ điều kiện để góp vốn vào doanh nghiệp

1.6.2. Chủ thể quan hệ góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất vào doanh nghiệp

1.6.3. Chủ thể góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất vào doanh nghiệp

1.6.4. Chủ thể nhận góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng vào doanh nghiệp

1.6.5. Hợp đồng góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất vào doanh nghiệp để hoạt động kinh doanh

1.6.6. Trình tự thủ tục góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất vào doanh nghiệp để hoạt động kinh doanh

1.7. Kết luận Chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH GÓP VỐN BẰNG GIÁ TRỊ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀO DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

2.1. Thực trạng áp dụng quy định pháp luật điều chỉnh việc góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất vào doanh nghiệp của tổ chức trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

2.2. Thực trạng áp dụng quy định điều chỉnh quyền của người sử dụng đất là các tổ chức kinh tế trong nước góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất vào doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

2.3. Thực trạng áp dụng quy định điều chỉnh quyền của người sử dụng đất là Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất vào doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

2.4. Thực trạng áp dụng quy định pháp luật về góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất vào doanh nghiệp của cá nhân trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

2.5. Thực trạng áp dụng quy định về điều kiện giá trị quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân góp vốn vào doanh nghiệp để hoạt động kinh doanh trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

2.6. Thực trạng áp dụng quy định về điều kiện giá trị quyền sử dụng đất của người sử dụng đất là Người Việt Nam định cư ở nước ngoài góp vốn vào doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

2.7. Kết luận Chương 2

3. CHƯƠNG 3: NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG GÓP VỐN BẰNG GIÁ TRỊ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀO DOANH NGHIỆP TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

3.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện quy định của pháp luật điều chỉnh về góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất vào doanh nghiệp

3.2. Cơ sở thực tiễn phải hoàn thiện quy định của pháp luật điều chỉnh về góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất vào doanh nghiệp

3.3. Cơ sở chính trị, pháp lý phải hoàn thiện quy định của pháp luật điều chỉnh về góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất vào doanh nghiệp

3.4. Phương hướng hoàn thiện quy định của pháp luật điều chỉnh về góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất vào doanh nghiệp

3.5. Tăng cường công tác giám sát của Quốc hội đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật về quy hoạch, quản lý, sử dụng đất đai hoàn thiện quy định của pháp luật điều chỉnh về góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất vào doanh nghiệp

3.6. Tăng cường công tác điều hành của chính phủ đối với việc thực hiện chính sách pháp luật về quy hoạch, quản lý, sử dụng đất đai hoàn thiện quy định của pháp luật điều chỉnh về góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất vào doanh nghiệp

3.7. Một số kiến nghị cơ bản hoàn thiện quy định của pháp luật điều chỉnh việc góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất vào doanh nghiệp

3.7.1. Kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật liên quan đến thực trạng áp dụng quy định pháp luật về góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất vào doanh nghiệp của tổ chức

3.7.2. Kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật liên quan đến thực trạng áp dụng quy định pháp luật điều chỉnh về góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất vào doanh nghiệp của cá nhân

3.7.3. Kiến nghị khắc phục những bất cập liên quan đến việc xác định đất không có tranh chấp khi góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất vào doanh nghiệp

3.8. Kết luận chương 3

KẾT LUẬN CHUNG

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Khái quát chung về góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất vào doanh nghiệp

Việc góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất vào doanh nghiệp tại Việt Nam đã trở thành một vấn đề quan trọng trong bối cảnh nền kinh tế thị trường hiện nay. Theo quy định pháp luật hiện hành, quyền sử dụng đất được xem như một loại tài sản đặc biệt, có giá trị kinh tế cao, và việc góp vốn bằng tài sản này không chỉ giúp tăng cường nguồn lực cho doanh nghiệp mà còn tạo ra cơ hội cho người sử dụng đất tham gia vào hoạt động kinh doanh. Đặc biệt, hợp tác kinh doanh thông qua góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất có thể giúp các doanh nghiệp tối ưu hóa nguồn lực và gia tăng khả năng cạnh tranh. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy rằng việc thực hiện quyền này vẫn gặp nhiều khó khăn do thiếu các quy định cụ thể và rõ ràng. Nhiều chủ thể tham gia giao dịch vẫn chưa nắm rõ các hình thức góp vốn, dẫn đến tình trạng lúng túng trong việc lựa chọn phương thức phù hợp.

1.1 Khái niệm và đặc điểm quyền sử dụng đất

Quyền sử dụng đất là quyền của cá nhân, tổ chức đối với việc sử dụng một mảnh đất nhất định theo quy định của pháp luật. Đặc điểm của quyền này bao gồm tính pháp lý, khả năng chuyển nhượng và giá trị kinh tế. Theo Luật đất đai, quyền sử dụng đất không chỉ là một quyền mà còn là một loại tài sản có giá trị. Điều này có nghĩa là người sử dụng đất có thể sử dụng quyền này để góp vốn vào doanh nghiệp, tạo ra lợi ích kinh tế cho cả hai bên tham gia giao dịch. Tuy nhiên, việc xác định giá trị quyền sử dụng đất để góp vốn vẫn là một vấn đề phức tạp, đòi hỏi có sự can thiệp của các cơ quan chức năng nhằm đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong giao dịch.

1.2 Khái niệm và đặc điểm góp vốn vào doanh nghiệp

Góp vốn vào doanh nghiệp là hành động của cá nhân hoặc tổ chức cung cấp tài sản để tạo ra vốn cho hoạt động kinh doanh. Việc góp vốn có thể diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau như tiền mặt, tài sản cố định, và đặc biệt là quyền sử dụng đất. Đặc điểm của việc góp vốn này không chỉ nằm ở giá trị tài sản mà còn ở quyền lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia. Theo quy định của Luật doanh nghiệp, việc góp vốn phải được ghi nhận rõ ràng trong hợp đồng và phải tuân thủ các quy định pháp luật liên quan đến tài sản góp vốn.

II. Nội dung quy định của pháp luật hiện hành điều chỉnh việc góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất

Pháp luật hiện hành về việc góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất vào doanh nghiệp được quy định trong nhiều văn bản pháp lý, bao gồm Luật đất đaiLuật doanh nghiệp. Theo đó, để thực hiện việc góp vốn, các bên cần xác định rõ giá trị quyền sử dụng đất đủ điều kiện để góp vốn. Điều này bao gồm việc xác định quyền lợi hợp pháp của người sử dụng đất, cũng như các yếu tố liên quan đến giá trị tài sản. Hợp đồng góp vốn phải được lập thành văn bản và có sự công chứng, nhằm đảm bảo quyền lợi cho các bên tham gia. Ngoài ra, các quy định về trình tự thủ tục góp vốn cũng cần được thực hiện nghiêm ngặt để tránh phát sinh tranh chấp trong tương lai.

2.1 Xác định giá trị quyền sử dụng đất đủ điều kiện để góp vốn

Việc xác định giá trị quyền sử dụng đất để góp vốn là một trong những vấn đề quan trọng và phức tạp nhất. Theo quy định, giá trị quyền sử dụng đất phải được xác định dựa trên các tiêu chí như mục đích sử dụng, vị trí địa lý và tình trạng pháp lý của đất. Điều này không chỉ đảm bảo tính minh bạch trong giao dịch mà còn bảo vệ quyền lợi của các bên tham gia. Việc định giá này thường được thực hiện bởi các tổ chức có chuyên môn, nhằm đảm bảo rằng giá trị đưa ra là hợp lý và phù hợp với giá trị thị trường.

2.2 Chủ thể quan hệ góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất

Chủ thể tham gia vào quan hệ góp vốn bao gồm người sử dụng đất và doanh nghiệp nhận góp vốn. Người sử dụng đất phải có quyền sở hữu hợp pháp đối với đất đai và có khả năng chuyển nhượng quyền này cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp nhận góp vốn cũng cần đảm bảo rằng việc nhận góp vốn không vi phạm các quy định pháp luật hiện hành. Điều này giúp tạo ra một môi trường giao dịch an toàn và minh bạch, đồng thời bảo vệ quyền lợi của các bên tham gia.

III. Thực trạng áp dụng pháp luật điều chỉnh góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất vào doanh nghiệp

Thực trạng áp dụng pháp luật về góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất vào doanh nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy nhiều bất cập. Nhiều doanh nghiệp và cá nhân vẫn gặp khó khăn trong việc thực hiện quyền góp vốn do thiếu thông tin và hướng dẫn cụ thể. Bên cạnh đó, các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất cũng gia tăng, gây khó khăn trong việc giải quyết. Các cơ quan chức năng cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và hướng dẫn thực hiện pháp luật để đảm bảo quyền lợi của người sử dụng đất và doanh nghiệp, đồng thời nâng cao hiệu quả của hoạt động góp vốn trong nền kinh tế.

3.1 Thực trạng áp dụng quy định pháp luật điều chỉnh việc góp vốn

Thực trạng cho thấy rằng việc áp dụng quy định pháp luật về góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất vẫn còn nhiều hạn chế. Nhiều doanh nghiệp không nắm rõ quy trình và thủ tục cần thiết để thực hiện việc góp vốn, dẫn đến tình trạng lúng túng và không hiệu quả trong hoạt động kinh doanh. Bên cạnh đó, việc xác định giá trị quyền sử dụng đất cũng gặp nhiều khó khăn do thiếu các tiêu chí rõ ràng và minh bạch.

3.2 Các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật

Để nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất, cần thiết phải hoàn thiện các quy định pháp luật, đồng thời tăng cường công tác tuyên truyền và hướng dẫn cho các chủ thể tham gia. Các cơ quan chức năng cũng cần có những biện pháp cụ thể nhằm giải quyết các tranh chấp phát sinh, đảm bảo quyền lợi cho người sử dụng đất và doanh nghiệp. Việc này không chỉ giúp thúc đẩy hoạt động kinh doanh mà còn tạo ra một môi trường đầu tư hấp dẫn hơn cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước.

11/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG ĐIỀU CHỈNH VIỆC GÓP VỐN BẰNG GIÁ TRỊ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀO DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM 1. Khái quát chung về góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất vào doanh nghiệp 1. Khái niệm, đặc điểm quyền sử dụng đất và giá trị quyền sử dụng đất Ở nước ta, cụm từ “Quyền sử dụng đất” (QSDĐ) và góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất là hai khái niệm chưa được định nghĩa cụ thể, chính thức trong Luật thực định. Nhìn nhận theo phương diện pháp lý, lần đầu tiên trong Bộ luật dân sự năm 1995 các nhà làm luật chỉ đề cập cụm từ “quyền sử dụng” chứ không có khái niệm “quyền sử dụng đất”.

Định nghĩa ấy được hiểu như sau: Quyền sử dụng là quyền của chủ sử dụng khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản. Người không phải là chủ sử dụng cũng có quyền sử dụng tài sản trong các trường hợp được chủ sử dụng chuyển giao quyền sử dụng hoặc do pháp luật quy định1. Trong suốt quá trình thực hiện quyền sử dụng của công dân, vấn đề này được kế thừa phát huy để sửa đổi, bổ sung hoàn thiện hơn khái niệm “quyền sử dụng” của Bộ luật dân sự năm 2005. Mãi đến năm 2015, khi mà Bộ luật dân sự được quốc hội ban hành, cụm từ này cũng được thống nhất về cách hiểu phù hợp với thực tiễn giao dịch trong nền kinh tế thị trường.

Theo đó, Quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản. Quyền sử dụng có thể được chuyển giao cho người khác theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật2. Như vậy Bộ luật dân sự là văn bản gốc để ban hành các văn bản luật chuyên ngành điều chỉnh mối quan hệ xã hội liên quan đến quyền sử dụng đất. Tất cả đều không có khái niệm cụ thể, nó chỉ được hiểu chung đó là quyền sử dụng tài sản và mặc nhiên quyền sử dụng đất chính là quyền tài sản.

Điểm mới ở đây là BLDS năm 2015 ghi nhận một cách rõ ràng trong quy định chung, chứ không ghi nhận trong một chế định cụ thể giống như BLDS năm 2005”3 1 Xem điều 198, Bộ luật dân sự năm 1995 2 Xem Điều 189, Bộ luật dân sự năm 2015 3 Xem Đỗ Văn Đại (Cb), Bình luận khoa học những điểm mới của BLDS 2015, Nxb Hồng Đức, H. 126 Remove Watermark Wondershare PDFelement 10 Việc làm rõ nội hàm bản chất của quyền sử dụng đất cũng như khái niệm, đặc điểm góp vốn bằng giá trị QSDĐ trong giai đoạn hiện nay là hết sức cần thiết và là tiền đề hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu tiếp theo của đề tài. Thứ nhất: Khái niệm và đặc điểm quyền sử dụng đất * Khái niệm quyền sử dụng đất Theo phương diện khoa học pháp lý, từ điển luật học xác định: "Quyền sử dụng đất là quyền của các chủ thể được khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi ích từ việc sử dụng đất được Nhà nước giao, cho thuê hoặc được chuyển giao từ chủ thể khác thông qua việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho”4. Từ trước đến nay, quyền sử dụng đất không được định nghĩa cụ thể trong các văn bản pháp luật đất đai, thực chất, rất nhiều nhà nghiên cứu tập trung khai thác các quy định của pháp luật liên quan đến khái niệm quyền sử dụng đất như Bộ Luật dân sự, Luật đất đai nhưng vẫn chưa thống nhất được khái niệm chung về quyền sử dụng đất.

Do đó, khó thống nhất chung trong cách hiểu về thuật ngữ này trong thực tiễn áp dụng pháp luật liên quan đến đất đai. Tác giả cho rằng, để khoa học hơn, khi nghiên cứu khái niệm “quyền sử dụng đất” cần nghiên cứu theo 03 hướng tiếp cận khác nhau về quyền sử dụng đất, như sau: (i) quyền sử dụng đất là vật quyền; (ii) quyền sử dụng đất là một trong những nội dung của QSH và (iii) quyền sử dụng đất là tài sản5 Quan niệm tiếp cận thứ nhất coi quyền sử dụng đất là một vật quyền: Vật quyền là một khái niệm có nguồn gốc xuất hiện đầu tiên trong lịch sử loài người chính là bộ Luật la mã cổ đại. Cho đến nay, thuật ngữ “vật quyền” cũng gặp nhiều khó khăn trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu để thống nhất cách hiểu cụ thể về nó. Theo cuốn từ điển Luật học thì vật quyền là quyền trực tiếp trên vật và có tác dụng mang lại cho người có quyền toàn bộ hoặc một phần tiện ích kinh tế đó.

Cũng theo nội dung giải thích về vật quyền thì vật quyền bao gồm hai loại, vật quyền chính và vật quyền phụ. 4 Viện Khoa học pháp lý, Từ điển Luật học (trang 655), Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa và Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội 2006. 5 Nguyễn Thùy Trang (2016), “Quyền sử dụng đất - một số quan điểm tiếp cận và đề xuất hướng giải quyết trong khoa học pháp lý của Việt Nam” Tạp chí khoa học pháp lý, (số 4) tr. Remove Watermark Wondershare PDFelement 11 Trong thực tiễn, vật quyền được hiểu theo hai nghĩa khác nhau: - Một là theo nghĩa chủ quan thì vật quyền là quyền của một chủ thể nhất định đối với một tài sản.

Theo nghĩa này thì vật quyền là quyền đối với vật, khác với trái quyền là quyền của một người yêu cầu một người khác thực hiện hoặc không thực hiện một hành vi nhất định (quyền đối nhân). – Hai là theo nghĩa khách quan thì vật quyền là toàn bộ các quy phạm pháp luật quy định về vật với tư cách là đối tượng của vật quyền, nội dung của các loại vật quyền, căn cứ phát sinh, chấm dứt các loại vật quyền, nguyên tắc thực hiện, bảo vệ vật quyền, các hạn chế mà người có vật quyền phải tuân thủ khi thực hiện các quyền năng của mình,… Thừa kế những nội dung này thì Bộ luật dân sự 2015 có những quy định về vât quyền, đó là quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản, do vậy rất nhiều quan điểm không đồng ý với cách tiếp cận quyền sử dụng đất là một vật quyền. Ở lĩnh vực đất đai thì đất đai không phải là vật do con người tạo ra mà là do con người tác động làm biến đổi đất đai theo nhu cầu sử dụng của chính mình. Hiến pháp nước ta quy định, chỉ có Nhà nước là đại diện chủ sở hữu đất đai, còn NSDĐ không có QSH đất đai, nhưng có quyền sử dụng đất.

Quyền sử dụng đất không thể là vật cụ thể mà là quyền tài sản. Cách tiếp cận quyền sử dụng đất là vật quyền sẽ không logic giữa lý luận lẫn thực tiễn, nghĩa là cơ sở lý luận mà văn bản gốc là Hiến pháp 2013 cũng như các văn bản luật chuyên ngành khác cũng xuất phát từ thực tiễn để khẳng định quyền sử dụng đất là quyền của mọi người dân trên cơ sở đất đai là của nhà nước. Quan niệm tiếp cận thứ hai, coi quyền sử dụng đất là một nội dung của QSH. Tác giả đồng ý với nội dung giáo trình Luật đất đai của Đại học Luật Hà Nội khi bàn về quyền sở hữu đất đai hiện nay.

Tức là quyền sử dụng đất đất đai là quyền ban đầu, còn quyền sử dụng đất là quyền phát sinh được xuất hiện sau đó. QSH đất đai là một loại quyền trọn vẹn, đầy đủ, còn quyền sử dụng đất là một loại quyền không trọn vẹn, không đầy đủ. Ở góc độ so sánh cụm từ “quyền sử dụng đất và quyền sử dụng” giữa LĐĐ và BLD được xuất hiện lần đầu tại điều 198 BLDS năm 1995 của nước ta, quy định như Remove Watermark Wondershare PDFelement 12 sau: “Quyền sử dụng là quyền của chủ sở hữu khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản. Người không phải là chủ sở hữu cũng có quyền sử dụng tài sản trong các trường hợp được chủ sở hữu chuyển giao quyền sử dụng hoặc do pháp luật quy định”6.

Trước khi luật đất đai hiện hành ra đời, trong giáo trình luật đất đai của trường Đại học Luật Hà Nội có quan điểm cho rằng: “Quyền sử dụng đất của Nhà nước phát sinh dựa trên cơ sở Nhà nước là đại diện chủ sở hữu đất đai nên quyền sử dụng đất này là vĩnh viễn, trọn vẹn và không bị ai hạn chế, còn quyền sử dụng đất của NSDĐ xuất hiện khi được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, cho phép nhận chuyển QSDĐ hoặc công nhận quyền sử dụng đất. và phụ thuộc vào ý chí của Nhà nước. Vì vậy, quyền sử dụng đất của họ bị Nhà nước hạn chế bởi diện tích, thời hạn và mục đích sử dụng. Nếu quyền sử dụng đất của Nhà nước mang tính gián tiếp và trừu tượng thì ngược lại, quyền sử dụng đất của người sử dụng lại mang tính chất trực tiếp và cụ thể” 7.

Như vậy, quyền sử dụng đất của NSDĐ được phát sinh từ QSH của Nhà nước. Tại vì quyền sử dụng đất là quyền phát sinh từ QSH nên NSDĐ có các quyền năng, mà nội dung của các quyền năng này rất gần với QSH. Cho đến thời điểm hiện nay, khi áp dụng văn bản hợp nhất Luật đất đai năm 2018 trong thực tiễn, quan điểm đó cũng được kế thừa và phát huy cả trong quy chuẩn pháp lý cũng như thực tiễn, quyền sử dụng đất chính là QSH đất đai một cách hạn chế. Dưới góc nhìn từ chủ sở hữu là Nhà nước đối với một thửa đất cụ thể Tác giả đồng quan điểm với lập luận khi cho rằng: trên thửa đất ấy cùng có hai chủ thể là (i) chủ sở hữu là Nhà nước và (ii) NSDĐ.

Nghĩa là NSDĐ có các quyền nhưng phải tuân thủ và tôn trọng các quyền của chủ sở hữu, ví dụ như sử dụng đất đúng mục đích, đúng quy hoạch, trong trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất thì phải được chủ sở hữu đồng ý, xây dựng công trình trên đất mà loại công trình đó theo quy định của pháp luật về xây dựng phải xin phép, thì NSDĐ phải xin phép. Cách tiếp cận thứ hai coi quyền sử dụng đất là tài sản: 6 Trong BLDS năm 2005 và BLDS năm 2015 khái niệm quyền sử dụng có sự thay đổi “Quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản. Quyền sử dụng có thể được chuyển giao cho người khác theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật”, nghĩa là đã bỏ cụm từ “.là quyền của chủ sở hữu.” việc bỏ cụm từ này là cần thiết và phù hợp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Quy Định Pháp Luật Về Góp Vốn Bằng Quyền Sử Dụng Đất Vào Doanh Nghiệp Ở Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các quy định pháp luật hiện hành liên quan đến việc góp vốn bằng quyền sử dụng đất vào doanh nghiệp tại Việt Nam. Nội dung bài viết không chỉ phân tích các điều khoản pháp lý mà còn chỉ ra những lợi ích và thách thức mà doanh nghiệp có thể gặp phải khi thực hiện hình thức góp vốn này. Đặc biệt, bài viết sẽ giúp người đọc hiểu rõ hơn về quy trình và các yêu cầu cần thiết để đảm bảo tuân thủ pháp luật, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh.

Để mở rộng kiến thức về các chủ đề liên quan, bạn có thể tham khảo thêm các bài viết như "Luận Văn Thạc Sĩ Về Chấm Dứt Hợp Đồng Lao Động Theo Bộ Luật Lao Động Năm 2019", nơi phân tích về các quy định trong lĩnh vực lao động, hay "Luận văn thạc sĩ về thương lượng tập thể: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện", cung cấp cái nhìn tổng quát về các vấn đề thương lượng trong pháp luật Việt Nam. Cuối cùng, bài viết "Thực trạng và giải pháp hoàn thiện cho hoạt động kinh doanh ví điện tử ở Việt Nam" cũng sẽ giúp bạn hiểu thêm về các quy định trong lĩnh vực kinh doanh và tài chính hiện nay. Những liên kết này sẽ giúp bạn mở rộng góc nhìn và nâng cao hiểu biết về các vấn đề pháp lý có liên quan.