CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẤU THẦU LỰA CHỌN CHỦ ĐẦU TƯ DỰ ÁN CÓ SỬ DỤNG ĐẤT 1. Khái quát về dự án đầu tư và dự án đầu tư có sử dụng đất 1. Khái niệm đầu tư Đầu tư là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong đời sống và đã được định nghĩa khá nhiều trong các từ điển, sách chuyên ngành về kinh tế, pháp luật. Theo từ điển Tiếng Việt, “đầu tư là việc bỏ nhân lực, vật lực, tài lực vào công việc gì, trên cơ sở tính toán hiệu quả kinh tế, xã hội”1.
Theo từ điển Luật học, “đầu tư là việc cá nhân, tổ chức đưa các loại tài sản vào làm vốn để thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh”2. Thực tế, hoạt động đầu tư được thực hiện bởi nhiều chủ thể khác nhau như cá nhân, tổ chức, kể cả cơ quan nhà nước và ngày càng đa dạng về hình thức, mục đích. Qua các định nghĩa trên, ta thấy dưới góc độ thông thường, suy cho cùng mục đích của việc đầu tư là nhằm mang lại những lợi ích xác định. Những lợi ích đó chính là “sự tăng thêm tài sản vật chất, tài sản trí tuệ hay nguồn nhân lực cho xã hội.
Kết quả đầu tư không chỉ là lợi ích trực tiếp cho nhà đầu tư mà còn mang lại lợi ích cho nền kinh tế và toàn xã hội”3. Dưới góc độ của pháp luật, đầu tư là việc chủ đầu tư bỏ vốn, tài sản theo quy định của pháp luật để thực hiện sản xuất, kinh doanh nhằm mang lại lợi nhuận hoặc đạt được các lợi ích về kinh tế, xã hội. Khái niệm đầu tư cũng được định nghĩa cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật, cụ thể, Luật Đầu tư 2005 quy định “đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định của pháp luật có liên quan”4. Bên cạnh khái 1 Viện ngôn ngữ (2003), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, tr.301 2 Viện khoa học pháp lý (1999), Từ điển Luật học, Nxb Từ điển bách khoa, tr.152 3 Trường Đại học Luật Hà Nội (2011), Giáo trình Luật Đầu tư, Nxb Công an Nhân dân, tr.6 4 Khoản 1 Điều 3 Luật Đầu tư 2005 8 niệm đầu tư, khái niệm kinh doanh cũng cần được nhắc tới, kinh doanh được hiểu là “việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”5.
Như vậy, hai hoạt động này có điểm chung là đều nhằm mục đích cuối cùng là sinh lợi. Do đó, thay vì sử dụng khái niệm “đầu tư”, Luật Đầu tư 2014 đã sử dụng khái niệm đầu tư kinh doanh. Theo đó, đầu tư kinh doanh là “việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư. Như vậy, đầu tư kinh doanh là hoạt động bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành hoạt động đầu tư nhằm tìm kiếm lợi nhuận hoặc những lợi ích nhất định”6 b.
Khái niệm, đặc điểm dự án đầu tư Theo nghĩa chung nhất, dự án được hiểu là “một tập hợp các hoạt động có liên quan đến nhau được thực hiện trong một khoảng thời gian có hạn, với những nguồn lực đã được giới hạn; nhất là nguồn tài chính có giới hạn để đạt được những mục tiêu cụ thể, rõ ràng, làm thoả mãn nhu cầu của đối tượng mà dự án hướng đến”7. Dự án cũng có thể được hiểu là “tổng thể những chính sách, hoạt động và chi phí liên quan với nhau được thiết kế nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Các mục tiêu của dự án luôn tương quan với nhau, nêu rõ cấu trúc của dự án, người tham gia và nhu cầu của họ”8. Mặt khác, dự án cũng có thể hiểu là tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những đối tượng nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng, cải tiến hoặc nâng cao chất lượng sản phẩm hay dịch vụ nào đó trong một khoảng thời gian xác định9.
5 Khoản 16 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014 6 Trương Thế Côn (2018), “Một số bất cập về chuyển nhượng dự án đầu tư có sử dụng đất”, Dân chủ và Pháp luật, số 312, tr.org/wiki/Dự_án (truy cập ngày 21/03/2019) 8 Nguyễn Ngọc Biện Thuỳ Hương (2017), Pháp luật về chuyển nhượng dự án đầu tư kinh doanh bất động sản, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Luật TPHCM, tr.18 9 Phạm Thị Hằng Nga (2012), Các vấn đề pháp lý về chuyển nhượng dự án trong đầu tư, kinh doanh bất động sản, Khoá luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Hà Nội 9 Về mặt pháp lý, dự án đầu tư “là tập hợp đề xuất bỏ vốn trung hạn hoặc dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư kinh doanh trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định”10. Như vậy, mọi dự án đầu tư đều có các đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, thời gian tồn tại của dự án là hữu hạn. Trước khi tiến hành xây dựng, cải tạo những đối tượng nhất định, nhà đầu tư phải cam kết hoàn thành dự án trong một khoảng thời gian xác định và phải chịu chế tài nếu như không thực hiện đúng những điều khoản đã cam kết. Việc cam kết này nhằm ràng buộc trách nhiệm của chủ đầu tư.
Thứ hai, mục tiêu dự án đã được lên kế hoạch từ trước. Tất cả các dự án đều phải có kết quả được xác định rõ. Dự án là tập hợp của các đề xuất ở mỗi giai đoạn xác định, mỗi giai đoạn phải hoàn thành một nhiệm vụ cụ thể. Do đó, tập hợp của các kết quả ở mỗi giai đoạn hình thành nên mục tiêu cuối cùng của dự án.
Thứ ba, các chủ thể tham gia dự án là khác nhau. Bất kì dự án nào thì cũng phải có sự tham gia của chủ đầu tư, nhà thầu, bên tư vấn, thiết kế xây dựng, cơ quan quản lý nhà nước. Tuỳ vào tính chất của dự án mà vai trò của các chủ thể là khác nhau. Thứ tư, dự án đầu tư mang tính cá biệt.
Nếu như quy trình sản xuất tạo ra hàng loạt sản phẩm giống hệt nhau thì quá trình xây dựng, cải tạo cho ra các công trình khác nhau. Sự khác biệt này xuất phát từ nhu cầu của mỗi địa phương, đó có thể là công trình về khu đô thị, nhà ở, hay công viên…Cho dù là cùng là một loại công trình nhưng kiến trúc, diện tích, nội thất… ở mỗi nơi sẽ mỗi khác nhau. Công trình được tạo ra phải đúng yêu cầu, đảm bảo chất lượng đã cam kết. Dự án đầu tư có sử dụng đất Từ các định nghĩa về dự án và đầu tư, có thể hiểu dự án đầu tư có sử dụng đất là tập hợp đề xuất bỏ vốn trung hạn hoặc dài hạn để tiến hành tạo mới, cải tạo những đối tượng nhất định trên địa bàn cụ thể và có sử dụng đất tại địa bàn đó trong một khoảng thời gian xác định.
Đất mà chủ đầu tư sử dụng để xây 10 Khoản 2 Điều 3 Luật Đầu tư 2014 10 dựng công trình có thể có được từ hoạt động đấu thầu lựa chọn chủ đầu tư hoặc đấu giá quyền sử dụng đất hoặc chủ đầu tư đã có quyền sử dụng đất hợp pháp, phù hợp với quy hoạch xây dựng, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và có đủ điều kiện làm chủ đầu tư. Các dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP), xây dựng - vận hành - chuyển giao (BOT), xây dựng - chuyển giao (BT), xây dựng - chuyển giao - vận hành (BTO), mặc dù đều là những dự án có sử dụng đất, tuy nhiên căn cứ theo điểm b khoản 1 Điều 1 Nghị định 30/2015/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà đầu tư thì các dự án đầu tư có sử dụng các khu đất, quỹ đất có giá trị thương mại cao dùng để xây dựng công trình thuộc đô thị mới; nhà ở thương mại; công trình thương mại và dịch vụ; tổ hợp đa năng và nằm trong danh mục dự án đã được phê duyệt thì được gọi là dự án có sử dụng đất và phải tiến hành đấu thầu để lựa chọn chủ đầu tư, do đó phạm vi của luận văn là các dự án đầu tư có sử dụng đất được quy định tại Nghị định 30/2015/NĐ-CP. Khái quát về đấu thầu lựa chọn chủ đầu tư dự án có sử dụng đất 1. Khái quát về hoạt động lựa chọn chủ đầu tư thực hiện dự án có sử dụng đất Theo quy định của Luật Đấu thầu 2013, chủ đầu tư là “tổ chức sở hữu vốn hoặc tổ chức được giao thay mặt chủ sở hữu vốn, tổ chức vay vốn trực tiếp quản lý quá trình thực hiện dự án”11.
Hoạt động lựa chọn chủ đầu tư thực hiện dự án có sử dụng đất là việc Nhà nước căn cứ theo các tiêu chí đã đặt ra, các tiêu chí này có thể thay đổi theo từng dự án, để tiến hành chọn ra nhà đầu tư phù hợp nhất, nhà đầu tư này sẽ trực tiếp quản lý quá trình thực hiện dự án. Theo quy định của Luật Đầu tư 2014, Nhà nước có thể lựa chọn nhà đầu tư để thực hiện dự án có sử dụng đất thông qua đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư, quyết định chủ trương đầu tư, hoặc không cần thông qua ba hoạt động này. 11 Khoản 4 Điều 4 Luật Đấu thầu 2013 11 Hiện nay, đấu giá quyền sử dụng đất chưa được định nghĩa tại một văn bản pháp lý nào. Với tư cách là một loại tài sản, một loại hàng hóa đặc biệt, quyền sử dụng đất có thể được đem giao dịch trong thị trường bất động sản.