Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ GÓP VỐN BẰNG GIÁ TRỊ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ Ở 1. Khái niệm, đặc điểm quyền sở hữu trí tuệ 1. Khái niệm quyền sở hữu trí tuệ Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, thuật ngữ Sở hữu trí tuệ và Quyền sở hữu trí tuệ được chính thức sử dụng Bộ luật dân sự năm 1995. Mặc dù không được định nghĩa trực tiếp song cấu trúc và nội dung phần thứ 6 Bộ luật dân sự : Quyền sở hữu trí tuệ là một chế định pháp lý gồm quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp được pháp luật quy định và bảo hộ.
Đó là một loại hình quyền sở hữu đặc biệt mà đối tượng là các sản phẩm sáng tạo do lao động trí óc con người tạo ra, là sản phẩm trí tuệ con người. Bộ luật dân sự năm 2005 đã bổ sung thêm đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ là quyền đối với giống cây trồng. Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 đã đưa ra khái niệm : Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng [20, Điều 4]. Như vậy, quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với những tài sản trí tuệ do con người sáng tạo ra.
Đó là độc quyền được trao cho một người, một nhóm người hoặc một tổ chức để khai thác, sử dụng, định đoạt những sản phẩm của hoạt động sáng tạo trí tuệ. Căn cứ vào khái niệm về quyền sở hữu trí tuệ, có thể thấy nội hàm của khái niệm này rộng. Vì vậy, để đảm bảo phân tích một cách đầy đủ và toàn diện về việc góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ, cũng như phù hợp với phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi đã chủ động giới hạn nghiên cứu chủ yếu về quyền sở hữu công nghiệp, mà cụ thể là nhãn hiệu hàng hóa. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhãn hiệu (Trademark) là một yếu tố đặc trưng gắn liền giữa thị trường thương mại và lĩnh vực Sở hữu công nghiệp.
Nó đã được sử dụng trong một thời gian dài bởi các nhà sản xuất cũng như các thương nhân để xác định nguồn gốc xuất xứ của hàng hóa hay dịch vụ của họ và phân biệt những hàng hóa, dịch vụ đó với các hàng hóa, dịch vụ được sản xuất hay bán bởi các chủ thể khác. Chức năng phân biệt nguồn gốc của hàng hóa hay dịch vụ của nhãn hiệu được xem là yếu tố quan trọng nhất của nhãn hiệu. Theo quy định tại Điều 4 của Luật Sở hữu trí tuệ 2005, khái niệm Quyền sở hữu công nghiệp được hiểu là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh. Như vậy, khái niệm về quyền đối với Nhãn hiệu hàng hóa cũng không nằm ngoài khái niệm Quyền sở hữu công nghiệp.
Mặt khác, theo quy định tại điều 181 Bộ luật dân sự năm 2005 thì „„Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ‟‟ [22 , Điều 181]. Như vậy, quyền Sở hữu trí tuệ cũng được coi là một loại quyền tài sản. Đặc điểm quyền sở hữu trí tuệ Quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền sở hữu công nghiệp nói riêng là một loại quyền tài sản, do đó nó có đầy đủ đặc tính của quyền tài sản nói chung đó là : chủ sở hữu có toàn quyền đối với tài sản của mình và không ai được sử dụng tài sản đó nếu không được sự cho phép của chủ sở hữu. Bên cạnh đó, xuất phát từ tính chất đặc thù của các đối tượng sở hữu công nghiệp – tài sản trí tuệ, quyền sở hữu công nghiệp có những đặc điểm riêng để phân biệt với quyền sở hữu khác, thậm trí với cả quyền tác giả.
6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thứ nhất, tính vô hình của đối tượng sở hữu công nghiệp Đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp mang đặc trưng của đối tượng quyền sở hữu trí tuệ đó là đặc tính vô hình. Đặc tính này hoàn toàn khác với đặc tính hữu hình của sở hữu tài sản vật chất. Là sản phẩm của sáng tạo trí tuệ, mang tính vô hình nên đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ nói chung và sở hữu công nghiệp nói riêng phải được vật chất hóa hoặc được thể hiện trên các vật mang tin cụ thể. Nói cách khác, tài sản sở hữu trí tuệ vô hình phải được phản ánh, thể hiện thông qua những vật thể hữu hình.
Một vật thể hữu hình có thể vừa là đối tượng của quyền sở hữu tài sản vật chất, lại vừa chứa đựng trong nó đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ. Đặc tính vô hình của sở hữu trí tuệ là đặc trưng quan trọng nhất. Quyền sở hữu công nghiệp là một loại quyền tài sản và đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp mang tính phi vật chất. Bởi vì, bản thân quyền sở hữu công nghiệp không thể tự nó đem lại các tiện ích hiện hữu cho người nắm giữ quyền mà nó chỉ đem lại các lợi ích vật chất và tinh thần cũng như các lợi thế cho chủ sở hữu, người sử dụng khi các đối tượng quyền sở hữu công nghiệp được áp dụng vào trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Thứ hai, phạm vi bảo hộ Quyền sở hữu công nghiệp chỉ được thừa nhận và bảo hộ theo thủ tục pháp lý. Chủ thể phải gửi đơn yêu cầu bảo hộ và được cấp văn bằng bảo hộ bởi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Việc bảo hộ này là bảo hộ độc quyền khai thác, sử dụng của chủ sở hữu đối với đối tượng được bảo hộ trong một thời gian nhất định theo quy định của pháp luật. Chỉ chủ sở hữu mới có quyền sử dụng hoặc chuyển giao cho người khác sử dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp thuộc sở hữu của mình.
Khác với quyền sở hữu thông thường, quyền sở hữu công nghiệp bị giới hạn bởi không gian và thời gian. Về không gian, việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp mang tính lãnh thổ triệt để. Điều này có nghĩa là quyền sở 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hữu công nghiệp chỉ phát sinh trên cơ sở công nhận và cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và chỉ được bảo hộ trong phạm vi lãnh thổ đã công nhận hoặc cấp văn bằng đó. Việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp trên thế giới đều tuân thủ nguyên tắc pháp luật quốc gia.
Quyền sở hữu công nghiệp xuất phát từ đặc trưng của đối tượng sở hữu công nghiệp – một tài sản vô hình được truyền bá bằng con đường nhận thức nên rất dễ bị xâm phạm, khó kiểm soát. Hơn nữa, việc áp dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp chủ yếu gắn với quá trình sản xuất công nghiệp, với mục đích thương mại và thỏa mãn nhu cầu vật chất của con người nên thường mang lại lợi ích lớn, có ảnh hưởng tới sự phát triển của khoa học kỹ thuật và kinh tế xã hội quốc gia. Vì vậy, quyền sở hữu công nghiệp mang tính lãnh thổ tuyệt đối. Về mặt thời gian, quyền sở hữu công nghiệp được bảo hộ trong một khoảng thời gian nhất định, vì đối tượng sở hữu công nghiệp là các sản phẩm trí tuệ thay đổi nhanh chóng theo tiến bộ khoa học công nghệ, dễ lạc hậu so với yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.
Các đối tượng sở hữu công nghiệp, đặc biệt là những đối tượng mang lại nhiều lợi ích kinh tế, giảm chi phí trong sản xuất hàng hóa và dịch vụ (sáng chế, giải pháp hữu ích, .) thường được bảo hộ trong một khoảng thời gian tương đối ngắn (tối đa là 20 năm). Hầu hết pháp luật về sở hữu công nghiệp các nước đều quy định thời hạn bảo hộ sáng chế là 20 năm, thời hạn bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa là 10 năm, có thể gia hạn nhiều lần, mỗi lần 10 năm. Hết thời hạn bảo hộ, chủ sở hữu sẽ mất độc quyền cũng như những quyền khác đối với đối tượng được bảo hộ. Tuy nhiên, một số đối tượng sở hữu công nghiệp như tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu nổi tiếng,.
được bảo hộ vô thời hạn nhưng các đối tượng đó cũng như chủ sở hữu các đối tượng đó phải đáp ứng một số điều kiện do pháp luật quy định. Thứ ba, quyền sử dụng 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đối với tài sản hữu hình, trong ba quyền năng của chủ sở hữu (chiếm hữu, sử dụng, định đoạt) thì quyền chiếm hữu dường như là quyền cơ bản và quan trọng nhất. Điều này xuất phát từ các đặc tính của tài sản hữu hình : trong hầu hết các trường hợp, chủ sở hữu phải chiếm hữu tài sản thì mới có thể khai thác công dụng của tài sản đó. Trong khi đó, đối với quyền sở hữu công nghiệp, quyền sử dụng lại được coi là quyền năng cơ bản nhất.
Với tài sản là nhãn hiệu, quyền này được thể hiện thông qua quyền sử dụng, cho phép người khác sử dụng, ngăn cấm người khác sử dụng và định đoạt nhãn hiệu được bảo hộ nếu không được chủ sở hữu cho phép. Điều này cũng xuất phát từ tính vô hình của các đối tượng sở hữu công nghiệp. Chủ sở hữu không thể chiếm hữu (cầm, nắm, giữ) tài sản. Việc khai thác giá trị quyền được thực hiện thông qua hành vi sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp.
Bản thân các đối tượng sở hữu công nghiệp không tạo ra giá trị mà chúng phải được ứng dụng vào những loại vật chất hữu hình cụ thể và phát sinh giá trị quá trình sử dụng, vận hành, khai thác các loại vật chất hữu hình này. Về bản chất, bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp là bảo hộ độc quyền khai thác, sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp.