đặt vấn đề nghiên cứu phụ nữ trong phát triển (Women in Development - WID) nhƣng thời gian sau do nhận thấy tính không toàn diện của vấn đề và không thu hút đƣợc sự tham gia của nam giới nên họ chuyển thành Giới và phát triển (Gender and Development - GAD) nghĩa là nghiên cứu mối quan hệ giữa phụ nữ và nam giới trong thế so sánh toàn diện để cùng có thể tìm giải pháp hạn chế tiến tới xóa bỏ bất bình đẳng giới trong các lĩnh vực. Nhà nghiên cứu Anh Oakley là ngƣời đầu tiên đƣa ra thuật ngữ "Giới" vào Xã hội học. Sau này chính các nhà nghiên cứu trên toàn thế giới đã khẳng định quan điểm nghiên cứu Giới trong Xã hội học, Giới với tƣ cách là hệ thống phân tầng trong đó nữ giới bị xếp hạng và đánh giá thấp hơn nam giới trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.Furier, ngƣời theo chủ nghĩa không tƣởng đầu thế kỷ 19 ở Pháp đã có một câu nói nổi tiếng, “Trình độ giải phóng phụ nữ là thƣớc đo trình độ phát triển của xã hội". Điều đó cũng có nghĩa là phụ nữ chỉ thực sự đƣợc giải phóng trong một xã hội có trình độ phát triển cao và đạt đƣợc bình đẳng giới.
Xã hội đó sẽ không chỉ thừa nhận vai trò to lớn của phụ nữ mà còn đƣa họ tới vị trí tƣơng xứng với vai trò, với cống hiến của họ. Việc so sánh giữa vai trò và vị trí của phụ nữ trong mối quan hệ với nam giới ở từng xã hội cụ thể sẽ đƣa đến những cách nhìn khách quan, khoa học và chính xác. Mối quan hệ phát triển bền vững và giới. Hiện nay, để đảm bảo tính bền vững của phát triển thì vấn đề giới phải đƣợc quan tâm đúng mức.
Giới và phát triển chú ý vào các mối quan hệ giới, có nghĩa là những tác động qua lại giữa nam giới và nữ giới, không đƣa các vấn đề ra một cách riêng rẽ. Giới và phát triển nhấn mạnh vào mô hình phát triển đen lại lợi ích cho cả hai nhóm và tập trung vào tính bình đẳng và tính bền vững của sự phát triển. Mối quan hệ giữa phát triển bền vững và giới thể hiện ở các nội dung: - Phụ nữ là một nguồn lực lớn lao của xã hội cần phải đƣợc sử dụng và phát huy; - Mối quan hệ giới hoài hoà vừa là mục tiêu, vừa là hệ quả và là động lực của sự phát triển bền vững; - Phát triển bền vững quan tâm đến vấn đề giới trong hoạch định chính sách sẽ tận dụng đƣợc nguồn tiềm năng lớn về nhân lực, trí tuệ,… đảm bảo cho sự tăng trƣởng vững chắc và tính hài hoà trong mối quan hệ môi trƣờng tự nhiên – xã hội. NGUỒN GỐC XÃ HỘI CỦA SỰ KHÁC BIỆT VỀ GIỚI Ngƣời Việt Nam có cái nhìn truyền thống về phẩm chất, vai trò của mỗi giới, đó là ngƣời phụ nữ phải dịu dàng, đảm đang, chung thuỷ, mang đầy đủ các phẩm chất công, dung, ngôn, hạnh, mang nét đẹp truyền thống của ngƣời phụ nữ Á Đông; ngoài ra còn có cả trình độ chuyên môn, khả năng thích ứng với những đòi hỏi của xã hội hiện đại.
Ngƣợc lại, ngƣời đàn ông phải mạnh mẽ, quyết đoán, là trụ cột trong gia đình. Trong giáo dục con cái, sự đối xử với trẻ tùy thuộc đó là trẻ em trai hay trẻ em gái thông qua đồ chơi, trang phục, về hành vi chăm sóc, tình cảm của ông bà, cha mẹ,…đối với chúng. Trẻ đƣợc dạy dỗ hàng ngày và luôn luôn đƣợc điều chỉnh hành vi sao cho phù hợp với sự mong đợi của mọi ngƣời đã trở thành khuôn mẫu cụ thể của mỗi giới. Từ quan niệm ở trên, phụ nữ làm nội trợ hay đi cấy thì đó không phải là vì họ là phụ nữ mà là vì họ đƣợc dạy dỗ để làm những việc đó từ khi là nhƣng đứa trẻ.
Các quan niệm khuôn mẫu đƣợc truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, con gái phỏng theo khuôn mẫu của ngƣời mẹ, con trai phỏng theo khuôn mẫu của ngƣời cha; tiếp đó là nhà trƣờng và các quan niệm, phong tục, tập quán xã hội củng cố vào khuôn 16 mẫu cho từng giới. Để hiểu rõ nguồn gốc xã hội của sự khác biệt về giới chúng ta hãy làm một bài tập tƣởng tƣợng. Bạn hãy suy nghĩ và nêu lên những dự định đối với đứa con vừa mới sinh ra của mình: + Bạn trông cậy gì ở con khi còn nhỏ? + Bạn mong muốn gì ở con khi con trƣởng thành? + Bạn muốn con sẽ làm nghề gì? + Bạn sẽ làm gì để đạt đƣợc những mong muốn đó? Thông thƣờng các bậc phụ huynh thƣờng đi theo hai khuynh hƣớng: Nếu là con gái, luôn mong rằng khi lớn lên nó sẽ hiền lành, thùy mị, nội trợ giỏi giang, chu đáo,…và có đƣợc nghề nghiệp phù hợp nhƣ, bác sĩ, giáo viên,…Vì thế, trong suốt thời gian ấu thơ họ luôn giáo dục con cái theo một khuôn mẫu thiên về nữ tính. Nếu là con trai, luôn mong rằng khi lớn lên nó sẽ tháo vát, nhanh nhẹn, quyết đoán,…và có đƣợc một nghề nghiệp phù hợp nhƣ, điện, cơ khí chế tạo, xây dựng,… Vì thế, họ luôn giáo dục con cái theo một khuôn mẫu thiên về nam tính.
Thông qua phân tích ở trên, chúng ta có những kết luận: - Giới là do dạy dỗ mà có, bắt đầu từ khi sinh ra, đứa trẻ đã đƣợc đối xử tùy theo nó là con trai hay con gái. - Mô hình giáo dục của cha mẹ cũng tùy thuộc vào đứa trẻ đó là trẻ trai hay trẻ gái để có tính khuôn mẫu trong giáo dục. Ở gia đình khi đứa trẻ sinh ra, bố mẹ, ông bà dạy dỗ và có cách ứng xử khác nhau đối với trẻ trai hay gái (cách ăn mặc và màu sắc quần áo, đồ chơi, uốn nắn tính cách, việc học và nghề nghiệp sau này). Đứa trẻ luôn phải điều chỉnh hành vi mà ngƣời lớn mong đợi.
- Nhà trƣờng, xã hội tiếp tục củng cố các khuôn mẫu cụ thể đối với từng giới qua các môn học, các hoạt động và sự hƣớng nghiệp. - Các thể chế, chính sách cũng có tác động hoặc làm thay đổi các mối quan hệ giới theo chiều hƣớng tích cực hay tiêu cực. - Các quan niệm về khuôn mẫu đƣợc tuyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, bắt đầu từ trong gia đình, tiếp đó là nhà trƣờng và ra ngoài xã hội, các quan niệm, phong 17 tục tập quán xã hội tiếp tục củng cố vào khuôn mẫu cụ thể cho từng giới. Từ trƣớc đến nay, ngƣời ta lấy sự khác biệt về giới tính để giải thích cho sự khác biệt về giới.
Đằng sau điểm xuất phát đơn giản đó là cả một vấn đề phức tạp, từ nhận thức đến tình cảm và hành vi, từ gia đình đến nhà trƣờng, thể chế xã hội, phong tục tập quán luôn luôn có sự tác động một cách vô tình hay hữu ý nhằm duy trì hay làm tăng thêm khoảng cách khác biệt giữa phụ nữ và nam giới trong xã hội. [1] Tóm lại, Giới là sản phẩm của xã hội nên sự khác biệt giới có thể điều chỉnh đƣợc bằng chính những nhận thức và hành vi mới của xã hội. VAI TRÕ, VỊ TRÍ CỦA GIỚI TRONG SỰ PHÁT TRIỂN 3. Định nghĩa Vai trò giới là những công việc và hoạt động cụ thể mà phụ nữ và nam giới thực tế đang làm.
Ví dụ, phụ nữ làm cô nuôi dạy trẻ, nam giới làm nghề lái xe. Thông thƣờng đây cũng là một công việc mà xã hội trông chờ ở mỗi cá nhân với tƣ cách là đàn ông hoặc đàn bà. Vai trò của giới Vai trò giới là những tập hợp những hoạt động và hành vi ứng xử mà nam giới và nữ giới học đƣợc và thể hiện trong thực tế, dựa trên sự mong đợi từ phía xã hội ở một ngƣời tùy thuộc ngƣời đó nữ hay nam giới. Vai trò giới đa dạng (tùy thuộc vào vị trí và bối cảnh), thay đổi theo thời gian (tƣơng ứng sự thay đổi của các điều kiện, hoàn cảnh) và thay đổi theo sự thay đổi trong quan niệm xã hội (tƣơng ứng với việc chấp nhận hay không chấp nhận một hành vi ứng xử và vai trò nào đó).
Có nhiều vai trò giới, tuy nhiên có thể nhóm các vai trò của mỗi cá nhân thành bốn nhóm chính đó là, vai trò tái sản xuất, vai trò sản xuất, vai trò cộng đồng và vai trò chính trị. Phụ nữ và nam giới đều thực hiện ba nhóm vai trò Vai trò sản xuất, là những công việc do phụ nữ và nam giới làm nhằm tạo ra của cải vật chất hoặc của cải tinh thần để đam lại thu nhập hoặc để tự nuôi sống. Ví dụ, cày, cấy, dệt vải, may mặc, bán hàng, dạy học, nghiên cứu, sáng tác,… Tuy nhiên, phụ nữ thƣờng làm những công việc giản đơn, ít kỹ thuật, thu nhập kém, giá trị công việc thấp nên địa vị kinh tế thấp. 18 Vai trò sinh sản, chăm sóc và nuôi dƣỡng, là những công việc do phụ nữ và nam giới làm nhằm duy trì nòi giống và chăm lo nhu cầu cơ bản của con ngƣời trong gia đình nhƣ thức ăn, chỗ ở, dạy con, chăm sóc sức khỏe cho các thành viên trong gia đình.
Tuy nhiên, những công việc gia đình phần nhiều do phụ nữ (bà, mẹ, chị gái, em gái đảm nhận). Vai trò này diễn ra hàng ngày, tốn nhiều thời gian, sức lực nhƣng chỉ đƣợc coi là “việc vặt” không đƣợc trả công. Vai trò cộng đồng gồm hai loại công việc: - Công việc đem lại phúc lợi cho cộng đồng, là những công việc do phụ nữ và nam giới tự nguyện làm nhằm đem lại phúc lợi cho tập thể, cộng đồng. Ví dụ, cọ rửa bể nƣớc công cộng; quét dọn đƣờng làng ngõ xóm, giúp đỡ ngƣời có hoàn cảnh khó khăn,… - Công việc lãnh đạo cộng đồng là những công việc do phụ nữ và nam giới tham gia vào việc ra quyết định và quản lý lãnh đạo cộng đồng.
Ví dụ, tham gia Hội đồng nhân dân các cấp; thảo luận các vấn đề phát triển kinh tế - xã hội ở địa phƣơng,. [1], [2] Tuy nhiên, việc thực hiện các vai trò này có sự khác nhau giữa phụ nữ và nam giới: - Phụ nữ thƣờng thực hiện cùng một lúc nhiều vai trò, trong khi nam giới thƣờng tập trung chủ yếu vào vai trò sản xuất. - Phụ nữ thƣờng là ngƣời làm phần lớn các công việc tái sản xuất, họ cũng làm nhiều loại công việc cộng đồng. - Phụ nữ và nam giới ngay cả khi cùng làm một loại công việc thì vẫn có thể thực hiện theo các cách khác nhau.