Giáo Trình Triết Học Mác - Lênin Năm 2019

Giáo trình nghiên cứu triết học 2019, trình bày lý thuyết rõ ràng, minh họa ví dụ thực tế, phù hợp sinh viên ., phục vụ nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Trường đại học

Bộ Giáo Dục Và Đào Tạo

Chuyên ngành

Triết Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Tài Liệu Học Tập

2019

307
137
0

Phí lưu trữ

75 Point

Mục lục chi tiết

1. CHƯƠNG I: TRIẾT HỌC VÀ VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI

1.1. I. TRIẾT HỌC VÀ VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC

1.1.1. Khái lược về triết học

1.1.2. Vấn đề cơ bản của triết học

1.1.3. Biện chứng và siêu hình

1.2. II. TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN VÀ VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC

1.2.1. MÁC - LÊNIN TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI

1.2.1.1. Sự ra đời và phát triển của triết học Mác - Lênin
1.2.1.2. Đối tượng và chức năng của triết học Mác – Lênin
1.2.1.3. Vai trò của triết học Mác - Lênin trong đời sống xã hội và trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay

2. CHƯƠNG II: CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG

2.1. I. VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC

2.1.1. Vật chất và các hình thức tồn tại của vật chất

2.1.2. Nguồn gốc, bản chất và kết cấu của ý thức

2.1.3. Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức

2.2. II. PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT

2.2.1. Hai loại hình biện chứng và phép biện chứng duy vật

2.2.2. Nội dung của phép biện chứng duy vật

2.3. III. LÝ LUẬN NHẬN THỨC

2.3.1. Các nguyên tắc của lý luận nhận thức duy vật biện chứng

2.3.2. Nguồn gốc, bản chất của nhận thức

2.3.3. Thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức

2.3.4. Các giai đoạn cơ bản của quá trình nhận thức

2.3.5. Tính chất của chân lý

3. CHƯƠNG III: CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ

3.1. I. HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI

3.1.1. Sản xuất vật chất là cơ sở của sự tồn tại và phát triển xã hội

3.1.2. Biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất

3.1.3. Biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của xã hội

3.1.4. Sự phát triển các hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên

3.2. II. GIAI CẤP VÀ DÂN TỘC

3.2.1. Giai cấp và đấu tranh giai cấp

3.2.2. Mối quan hệ giai cấp - dân tộc - nhân loại

3.3. III. NHÀ NƯỚC VÀ CÁCH MẠNG XÃ HỘI

3.3.1. Cách mạng xã hội

3.4. IV. KHÁI NIỆM TỒN TẠI XÃ HỘI VÀ CÁC YẾU TỐ CƠ BẢN CỦA TỒN TẠI XÃ HỘI

3.4.1. Ý thức xã hội và kết cấu của ý thức xã hội

3.5. V. TRIẾT HỌC VỀ CON NGƯỜI

3.5.1. Khái niệm con người và bản chất con người

3.5.2. Hiện tượng tha hóa con người và vấn đề giải phóng con người

3.5.3. Quan hệ cá nhân và xã hội; vai trò của quần chúng nhân dân và lãnh tụ trong lịch sử

3.5.4. Vấn đề con người trong sự nghiệp cách mạng ở Việt Nam

Tóm tắt

I. Tổng quan về Giáo Trình Triết Học Mác Lênin 2019

Giáo trình Triết học Mác - Lênin 2019 là tài liệu học tập quan trọng, được biên soạn bởi Bộ Giáo dục và Đào tạo. Tài liệu này không chỉ cung cấp kiến thức lý thuyết mà còn giúp sinh viên hiểu rõ hơn về vai trò của triết học trong đời sống xã hội. Nội dung giáo trình được xây dựng dựa trên những nguyên lý cơ bản của triết học Mác - Lênin, nhằm trang bị cho sinh viên những kiến thức cần thiết để áp dụng vào thực tiễn.

1.1. Nội dung chính của giáo trình

Giáo trình bao gồm các chương trình học từ cơ bản đến nâng cao, tập trung vào triết học Mác - Lênin, các nguyên lý cơ bản và ứng dụng thực tiễn trong xã hội hiện đại.

1.2. Đối tượng sử dụng giáo trình

Giáo trình được thiết kế cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng và những ai quan tâm đến triết học Mác - Lênin, nhằm nâng cao hiểu biết và khả năng tư duy phản biện.

II. Vấn đề và thách thức trong việc giảng dạy triết học Mác Lênin

Việc giảng dạy triết học Mác - Lênin hiện nay gặp nhiều thách thức, từ việc cập nhật nội dung đến phương pháp giảng dạy. Nhiều sinh viên cảm thấy khó khăn trong việc tiếp cận các khái niệm triết học phức tạp. Do đó, cần có những phương pháp giảng dạy sáng tạo và hiệu quả hơn để thu hút sự chú ý của sinh viên.

2.1. Khó khăn trong việc tiếp cận triết học

Nhiều sinh viên gặp khó khăn trong việc hiểu các khái niệm triết học do tính trừu tượng và phức tạp của chúng. Cần có các phương pháp giảng dạy phù hợp để giúp sinh viên dễ dàng tiếp cận.

2.2. Cần cải tiến phương pháp giảng dạy

Giảng viên cần áp dụng các phương pháp giảng dạy hiện đại, như học tập dựa trên dự án và thảo luận nhóm, để tạo ra môi trường học tập tích cực và hiệu quả.

III. Phương pháp giảng dạy triết học Mác Lênin hiệu quả

Để nâng cao chất lượng giảng dạy triết học Mác - Lênin, cần áp dụng các phương pháp giảng dạy hiện đại và phù hợp với nhu cầu của sinh viên. Việc sử dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy cũng là một yếu tố quan trọng giúp sinh viên tiếp cận kiến thức một cách dễ dàng hơn.

3.1. Sử dụng công nghệ trong giảng dạy

Việc tích hợp công nghệ thông tin vào giảng dạy giúp sinh viên dễ dàng tiếp cận tài liệu học tập và nâng cao khả năng tự học.

3.2. Tạo môi trường học tập tích cực

Giảng viên cần tạo ra môi trường học tập khuyến khích sự tham gia của sinh viên thông qua các hoạt động thảo luận và phản biện.

IV. Ứng dụng triết học Mác Lênin trong thực tiễn

Triết học Mác - Lênin không chỉ là lý thuyết mà còn có ứng dụng thực tiễn trong nhiều lĩnh vực như chính trị, kinh tế và xã hội. Việc áp dụng các nguyên lý triết học vào thực tiễn giúp giải quyết nhiều vấn đề xã hội hiện nay.

4.1. Ứng dụng trong chính trị

Triết học Mác - Lênin cung cấp cơ sở lý luận cho các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, giúp định hướng cho các quyết định chính trị.

4.2. Ứng dụng trong kinh tế

Các nguyên lý của triết học Mác - Lênin có thể được áp dụng để phân tích và giải quyết các vấn đề kinh tế trong bối cảnh toàn cầu hóa.

V. Kết luận và tương lai của triết học Mác Lênin

Triết học Mác - Lênin vẫn giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành tư tưởng và chính sách ở Việt Nam. Tương lai của triết học này phụ thuộc vào khả năng thích ứng với những thay đổi của xã hội và nhu cầu của sinh viên. Cần có những nghiên cứu và cải tiến liên tục để đảm bảo triết học Mác - Lênin luôn phù hợp và có giá trị.

5.1. Tầm quan trọng của triết học trong giáo dục

Triết học Mác - Lênin cần được duy trì và phát triển trong giáo dục để giúp sinh viên có cái nhìn sâu sắc về thế giới và xã hội.

5.2. Hướng phát triển trong tương lai

Cần nghiên cứu và phát triển các phương pháp giảng dạy mới, phù hợp với xu hướng hiện đại để triết học Mác - Lênin tiếp tục phát huy vai trò của mình.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

27/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I TRIẾT HỌC VÀ VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI I. TRIẾT HỌC VÀ VẤN ĐỀ cơ BẢN CỦA TRIÉT HỌC 1. Khái lược về trỉết học a. Nguồn gốc cửa triết học Là một loại hình nhận thức đặc thù của con người, triết học ra đời ở cả Phương Đông và Phương Tây gần như cùng một thời gian (khoảng từ thế kỷ VIII đến thế kỷ VI tr.CN) tại các trung tâm văn minh lớn của nhân loại thời cổ đại.

Ý thức triết học xuất hiện không ngẫu nhiên, mà có nguồn gốc thực tê từ tồn tại xã hội với một trình độ nhất định của sự phát triển văn minh, văn hóa và khoa học. Con người, với kỳ vọng được đáp ứng nhu cầu về nhận thức và hoạt động thực tiễn của mình đã sáng tạo ra những luận thuyết chung nhất, có tính hệ thống phản ánh thế giới xung quanh và thế giới của chính con người. Triết học là dạng tri thức lý luận xuất hiện sớm nhất trong lịch sử các loại hình lý luận của nhân loại. Với tính cách là một hình thái ý thức xã hội, triết học có nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội.

• Nguồn gốc nhận thức Nhận thức thế giới là một nhu cầu tự nhiên, khách quan của con người, về mặt lịch sử, tư duy huyền thoại và tín ngưỡng nguyên thủy là loại hình triết lý đầu tiên mà con người dùng để giải thích thế giới bí ẩn xung quanh. Người nguyên thủy kết nối những hiểu biết rời rạc, mơ hồ, phi lôgíc. của mình trong các quan niệm đầy xúc cảm và hoang tưởng thành những huyền thoại để giải thích mọi hiện tượng. Đỉnh cao của tư duy huyền thoại và tín ngưỡng nguyên thủy là kho tàng những câu chuyện thần thoại và những tôn giáo sơ khai như Tô tem giáo, Bái vật giáo, Saman giáo.

Thời kỳ triết học ra đời cũng là thời kỳ suy giảm và thu hẹp phạm vi của các loại hình tư duy huyền thoại và tôn giáo nguyên thủy. Triết học chính là hình thức tư duy lý luận đầu tiên trong lịch sử tư tưởng nhân loại thay thế 10 được cho tư duy huyền thoại và tôn giáo. Trong quá trình sống và cải biến thế giới, từng bước con người có kinh nghiệm và có tri thức về thế giới. Ban đầu là những tri thức cụ thể, riêng lẻ, cảm tính.

Cùng với sự tiến bộ của sản xuất và đời sống, nhận thức của con người dần dần đạt đến trình độ cao hơn trong việc giải thích thế giới một cách hệ thống, lôgíc và nhân quả. Mối quan hệ giữa cái đã biết và cái chưa biết là đối tượng đồng thời là động lực đòi hỏi nhận thức ngày càng quan tâm sâu sắc hơn đến cái chung, những quy luật chung. Sự phát triển của tư duy trừu tượng và năng lực khái quát trong quá trình nhận thức sẽ đến lúc làm cho các quan điểm, quan niệm chung nhất về thế giới và về vai trò của con người trong thế giới đó hình thành. Đó là lúc triết học xuất hiện với tư cách là một lọại hình tư duy lý luận đối lập với các giáo lý tôn giáo và triết lý huyền thoại.

Vào thời Cổ đại, khi các loại hình tri thức còn ở trong tình trạng tản mạn, dung hợp và sơ khai, các khoa học độc lập chưa hình thành, thì triết học đóng vai trò là dạng nhận thức lý luận tổng hợp, giải quyết tất cả các vấn đề lý luận chung về tự nhiên, xã hội và tư duy. Từ buổi đầu lịch sử triết học và tới tận thời kỳ Trung cổ, triết học vẫn là tri thức bao trùm, là “khoa học của các khoa học”. Trong hàng nghìn năm đó, triết học được coi là có sứ mệnh mang trong mình mọi trí tuệ của nhân loại. Kant (Cantơ), nhà triết học sáng lập ra Triết học cổ điển Đức ở thế kỷ XVIII, vẫn đồng thời là nhà khoa học bách khoa.

Sự dung hợp đó của triết học, một mặt phản ánh tình trạng chưa chín muồi của các khoa học chuyên ngành, mặt khác lại nói lên nguồn gốc nhận thức của chính triết học. Triết học không thể xuất hiện từ mảnh đất trống, mà phải dựa vào các tri thức khác để khái quát và định hướng ứng dụng. Các loại hình tri thức cụ thể ở thế kỷ thứ VII tr.CN thực tế đã khá phong phú, đa dạng. Nhiều thành tựu mà về sau người ta xếp vào tri thức cơ học, toán học, y học, nghệ thuật, kiến trúc, quân sự và cả chính trị.

ở Châu Âu thời bấy giờ đã đạt tới mức mà đến nay vẫn còn khiến con người ngạc nhiên. Giải phẫu học cổ đại đã phát hiện ra những tỷ lệ đặc biệt cân đối của cơ thể người và những tỷ lệ này đã trở thành những “chuẩn mực vàng” trong hội họa và kiến trúc cổ đại góp phần tạo 11 nên một số kỳ quan của thế giới 1. Dựa trên những tri thức như vậy, triết học ra đời và khái quát các tri thức riêng lẻ thành luận thuyết, trong đó có những khái niệm, phạm trù và quy luật. Như vậy, nói đến nguồn gốc nhận thức của triết học là nói đến sự hình thành, phát triền của tư duy trừu tượng, của năng lực khái quát trong nhận thức của con người.

Tri thức cụ thể, riêng lẻ về thế giới đến một giai đoạn nhất định phải được tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa thành những khái niệm, phạm trù, quan điểm, quy luật, luận thuyết. đủ sức phổ quát để giải thích thế giới. Triết học ra đời đáp ứng nhu cầu đó của nhận thức. Do nhu cầu của sự tồn tại, con người không thỏa mãn với các tri thức riêng lẻ, cục bộ về thế giới, càng không thỏa mãn với cách giải thích của các tín điều và giáo lý tôn giáo.

Tư duy triết học bắt đầu từ các triết lý, từ sự khôn ngoan, từ tình yêu sự thông thái, dần hình thành các hệ thống những tri thức chung nhất về thế glởi. Triết học chỉ xuất hiện khi kho tàng thức của loài người đã hình thành được một vốn hiểu biết nhất định và trên cơ sở đó, tư duy con người cũng đã đạt đến trình độ có khả năng rút ra được cái chung trong muôn vàn những sự kiện, hiện tượng riêng lẻ. • Nguồn gốc xã hội Triết học không ra đời trong xã hội mông muội dã man.Mác nói: “Triết học không treo lơ lửng bên ngoài thế giới, cũng như bộ óc không tồn tại bên ngoài con người”2. Triết học ra đời khi nền sản xuất xã hội đã có sự phân công lao động và loài người đã xuất hiện giai cấp.

Tức là khi chế độ cộng sản nguyên thủy tan rã, chế độ chiếm hữu nô lệ đã hình thành, phương thức sản xuất dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất đã xác định và ở trình độ khá phát triển. Xã hội có giai cấp và nạn áp bức giai cấp hà khắc đã được luật hóa. Nhà nước, công cụ trấn áp và điều hòa lợi ích giai cấp đủ trưởng thành, “từ chỗ là tôi tớ của xã hội biến thành chủ nhân của xã-hội”3. (2002), Science and Mathematìcs ỉn Âncient Greek Cuỉture (Khoa học và Toán học trong Văn hóa Hy Lạp cổ đại), Oxford Uníversity Press.Ăngghen (2005), Toàn tập, t.

Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.Ăngghen (1995), Toàn tập, t. Chính trị quốc gia, Hà Nội. 12 Gắn liền với các hiện tượng xã hội vừa nêu là lao động trí óc đã tách khỏi lao động chân tay. Trí thức xuất hiện với tính cách là một tầng lớp xã hội, có vị thế xã hội xác định.

Vào thế kỷ VII - V tr.CN, tầng lớp quý tộc, tăng lữ, điền chủ, nhà buôn, binh lính. đã chú ý đến việc học hành. Nhà trường và hoạt động giáo dục đã trở thành một nghề trong xã hội. Tri thức toán học, địa lý, thiên văn, cơ học, pháp luật, y học.

đã được giảng dạy4. Nghĩa là tầng lớp trí thức đã được xã hội ít nhiều trọng vọng. Tầng lớp này có đỉều kiện và nhu cầu nghiên cứu, có năng lực hệ thống hóa các quan niệm, quan điểm thành học thuyết, lý luận. Những người xuất sắc trong tầng lớp này đã hệ thống hóa thành công tri thức thời đại dưới dạng các quan điểm, các học thuyết lý luận.

có tính hệ thống, giải thích được sự vận động, quy luật hay các quan hệ nhân quả của một đối tượng nhất định, được xã hội công nhận là các nhà thông thái, các triết gia (Wise man, Sage, Scholars, Philosopher), tức là các nhà tư tưởng, về mối quan hệ giữa các triết gia với cội nguồn của mình, C.Mác nhận xét: “Các triết gia không mọc lên như nấm từ trái đất; họ là sản phẩm của thời đại của mình, của dân tộc mình, mà dòng sữa tinh tế nhất, quý giá và vô hình được tập trung lại trong những tư tưởng triết học”5. Triết học xuất hiện trong lịch sử loài người với những điều kiện như vậy và chỉ trong những điều kiện như vậy - là nội dung của vấn đề nguồn gốc xã hội của triết học. “Triết học” là thuật ngữ được sử dụng lần đầu tiên trong trường phái Socrates (Xôcrát). Còn thuật ngữ “Triết gia” (Philosophos) đầu tiên xuất hiện ở Heraclitus (Hêraclit), dùng để chỉ người nghiên cứu vê bản chất của sự vật6.

Như vậy, triết học chỉ ra đời khi xã hội loài người đã đạt đến một trình độ tương đối cao của sản xuất xã hội, phân công lao động xã hội hình thành, của cải tương đối thừa dư, tư hữu hóa tư liệu sản xuất được luật định, giai cấp phân hóa rõ và mạnh, nhà nước ra đời. Trong một xã hội như vậy, tầng lớp trí thức xuất hiện, giáo dục và nhà trường hình thành và phát triển, các nhà thông thái đã đủ năng lực tư duy để trừu tượng hóa, khái quát hóa, hệ thống hóa toàn bộ tri thức thời đại và 4 Xem: Michael Lahanas, Edncation in Ancient Greece (Giáo dục thời Hy Lạp cổ đại), http://www.com/Greece/Ancient/en/AncientGreeceEducation.Ăngghen (2005), Toàn tập, t. 0UJÌOCO(Ị)CKUŨ oHiịUKnoneờmecKiứ cnoaapb (Triết học. Từ điển Bách Triết học) (2010), http://philosophy.ru/doc/dictionaty/philosophy/articles/62/fìiosofiya.htM 13 các hiện tượng của tồn tại xã hộỉ để xây dựng nên các học thuyết, các lý luận, các triết thuyết.

Với sự tồn tại mang tính pháp lý của chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, của trật tự giai cấp và của bộ máy nhà nước, triết học, tự nó đã mang trong mình tính giai cấp sâu sắc, nó công khai tính đảng là phục vụ cho lợi ích của những giai cấp, những lực lượng xã hội nhất định.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Giáo Trình Triết Học Mác - Lênin Năm 2019 là tài liệu học tập toàn diện về nền tảng lý thuyết của chủ nghĩa Mác-Lênin, cung cấp kiến thức sâu sắc về các nguyên lý cơ bản của duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Giáo trình này được thiết kế nhằm giúp sinh viên, các nhà nghiên cứu và những người quan tâm đến lý luận chính trị hiểu rõ hơn về các khái niệm và ứng dụng thực tiễn của Mác-Lênin. Tài liệu liên kết chặt chẽ với chủ nghĩa xã hội khoa học như nền tảng lý thuyết cơ bản. Giáo trình cũng làm sáng tỏ mối quan hệ giữa Mác-Lênin với tư tưởng Hồ Chí Minh, một ứng dụng sáng tạo ở Việt Nam. Tham khảo thêm các giáo trình triết học Mác-Lênin đại học khác để nắm bắt đầy đủ các khía cạnh của học thuyết này.