BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO GIÁO TRÌNH TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN (SỬ DỤNG TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC- HỆ KHÔNG CHUYÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ), (Tài liệu dùng tập huấn giảng dạy năm 2019) 1 HÀ NỘI 8- 2019 2 GIÁO TRÌNH TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN 3 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO GIÁO TRÌNH TRIÉT HỌC MÁC - LÊNIN (SỬ DỤNG TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC- HỆ KHÔNG CHUYÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ) (Tài liệu dùng tập huấn giảng dạy năm 2019) HÀ NỘI 8- 2019 4 CHỈ ĐẠO BIÊN SOẠN Đồng chí Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương. Đồng chí GS.TS Phùng Xuân Nhạ, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Đồng chí PGS.TS Phạm Văn Linh, Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, Trưởng Ban Chỉ đạo biên soạn giáo trình các môn Lý luận chính trị. HỘI ĐỎNG BIÊN SOẠN GS. Phạm Vãn Đức (chủ biên) GS. Trần Văn Phòng PGS. Nguyễn Tài Đông Thiếu tướng GS. Nguyễn Vãn Tài GS. Nguyễn Trọng Chuẩn GS. Hồ Sĩ Quý PGS. TSKH, Lương Đình Hải PGS. Nguyễn Anh Tuấn PGS. Trần Đăng Sính CỘNG TÁC BIÊN SOẠN Thiếu tướng, GS. Trương Giang Long GS. Trần Phúc Thăng GS. Nguyễn Hùng Hậu 5 MỤC LỤC CHƯƠNG I TRIÊT HỌC VÀ VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI I. TRIẾT HỌC VÀ VẮN ĐỀ CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC 1 Khái lược về triết học 1 Vấn đề cơ bản của triết học 11 Biện chửng và siêu hình 16 II. TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN VÀ VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC 18 MÁC - LÊNIN TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI 1. Sự ra đời và phát triển của triết học Mác - Lênin 18 2. Đối tượng và chức năng của triết học Mác – Lênin 42 3. Vai trò của triết học Mác - Lênin trong đời sống xã hội và trong sự nghiệp 45 đổi mới ở Việt Nam hiện nay CHƯƠNG II CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG I. VẬT CHẮT VẢ Ý THỨC 53 1. Vật chất và các hình thức tồn tại của vật chất 53 2. Nguồn gốc, bản chất và kết cấu của ý thức 67 3. Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức 6 78 II. PHÉP BIỆN CHÚNG DUY VẬT 83 1. Hai loại hình biện chứng và phép biện chứng duy vật 83 2. Nội dung của phép biện chứng duy vật 85 III. LÝ LUẬN NHẬN THỨC 112 1. Các nguyên tắc của lý luận nhận thức duy vật biện chứng 112 2. Nguồn gốc, bản chất của nhận thức 113 3. Thực tiễn vả vai trò cùa thực tiễn đối với nhận thức 115 7 4. Các giai đoạn cơ bản của quá trình nhận thức 120 5. Tính chất của chân lý 123 CHƯƠNG III CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ I. HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KINH TỂ - XÃ HỘI 126 1. Sản xuất vật chất là cơ sở của sự tồn tại và phát triển xã hội 126 2. Biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất 128 3. Biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của xã hộỉ 135 4. Sự phát triển các hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - 140 tự nhiên II. GIAI CẤP VÀ DÂN TỘC 146 1. Giai cấp và đấu tranh giai cấp 146 2. Mối quan hệ giai cấp - dân tộc - nhân loại 169 III. NHÀ NƯỚC VÀ CÁCH MẠNG XÃ HỘI 174 8 1. Cách mạng xã hội 183 IV. Khái niệm tồn tại xã hội và các yếu tố cơ bản của tồn tại xã hội 189 2. Ý thức xã hội và kết cấu của ý thức xã hội 190 V. TRIẾT HỌC VÈ CON NGƯỜI 203 1. Khái niệm con người và bản chất con người 203 2. Hiện tượng tha hóa con người và vấn đề giải phóng con người 208 3. Quan hệ cá nhân và xã hội; vai trò của quần chúng nhân dân và lãnh 211 tụ trong lịch sử 4. Vấn đề con người trong sự nghiệp cách mạng ở Việt Nam 217 9 CHƯƠNG I TRIẾT HỌC VÀ VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI I. TRIẾT HỌC VÀ VẤN ĐỀ cơ BẢN CỦA TRIÉT HỌC 1. Khái lược về trỉết học a. Nguồn gốc cửa triết học Là một loại hình nhận thức đặc thù của con người, triết học ra đời ở cả Phương Đông và Phương Tây gần như cùng một thời gian (khoảng từ thế kỷ VIII đến thế kỷ VI tr.CN) tại các trung tâm văn minh lớn của nhân loại thời cổ đại. Ý thức triết học xuất hiện không ngẫu nhiên, mà có nguồn gốc thực tê từ tồn tại xã hội với một trình độ nhất định của sự phát triển văn minh, văn hóa và khoa học. Con người, với kỳ vọng được đáp ứng nhu cầu về nhận thức và hoạt động thực tiễn của mình đã sáng tạo ra những luận thuyết chung nhất, có tính hệ thống phản ánh thế giới xung quanh và thế giới của chính con người. Triết học là dạng tri thức lý luận xuất hiện sớm nhất trong lịch sử các loại hình lý luận của nhân loại. Với tính cách là một hình thái ý thức xã hội, triết học có nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội. • Nguồn gốc nhận thức Nhận thức thế giới là một nhu cầu tự nhiên, khách quan của con người, về mặt lịch sử, tư duy huyền thoại và tín ngưỡng nguyên thủy là loại hình triết lý đầu tiên mà con người dùng để giải thích thế giới bí ẩn xung quanh. Người nguyên thủy kết nối những hiểu biết rời rạc, mơ hồ, phi lôgíc. của mình trong các quan niệm đầy xúc cảm và hoang tưởng thành những huyền thoại để giải thích mọi hiện tượng. Đỉnh cao của tư duy huyền thoại và tín ngưỡng nguyên thủy là kho tàng những câu chuyện thần thoại và những tôn giáo sơ khai như Tô tem giáo, Bái vật giáo, Saman giáo. Thời kỳ triết học ra đời cũng là thời kỳ suy giảm và thu hẹp phạm vi của các loại hình tư duy huyền thoại và tôn giáo nguyên thủy. Triết học chính là hình thức tư duy lý luận đầu tiên trong lịch sử tư tưởng nhân loại thay thế 10 được cho tư duy huyền thoại và tôn giáo. Trong quá trình sống và cải biến thế giới, từng bước con người có kinh nghiệm và có tri thức về thế giới. Ban đầu là những tri thức cụ thể, riêng lẻ, cảm tính. Cùng với sự tiến bộ của sản xuất và đời sống, nhận thức của con người dần dần đạt đến trình độ cao hơn trong việc giải thích thế giới một cách hệ thống, lôgíc và nhân quả. Mối quan hệ giữa cái đã biết và cái chưa biết là đối tượng đồng thời là động lực đòi hỏi nhận thức ngày càng quan tâm sâu sắc hơn đến cái chung, những quy luật chung. Sự phát triển của tư duy trừu tượng và năng lực khái quát trong quá trình nhận thức sẽ đến lúc làm cho các quan điểm, quan niệm chung nhất về thế giới và về vai trò của con người trong thế giới đó hình thành. Đó là lúc triết học xuất hiện với tư cách là một lọại hình tư duy lý luận đối lập với các giáo lý tôn giáo và triết lý huyền thoại. Vào thời Cổ đại, khi các loại hình tri thức còn ở trong tình trạng tản mạn, dung hợp và sơ khai, các khoa học độc lập chưa hình thành, thì triết học đóng vai trò là dạng nhận thức lý luận tổng hợp, giải quyết tất cả các vấn đề lý luận chung về tự nhiên, xã hội và tư duy. Từ buổi đầu lịch sử triết học và tới tận thời kỳ Trung cổ, triết học vẫn là tri thức bao trùm, là “khoa học của các khoa học”. Trong hàng nghìn năm đó, triết học được coi là có sứ mệnh mang trong mình mọi trí tuệ của nhân loại. Kant (Cantơ), nhà triết học sáng lập ra Triết học cổ điển Đức ở thế kỷ XVIII, vẫn đồng thời là nhà khoa học bách khoa. Sự dung hợp đó của triết học, một mặt phản ánh tình trạng chưa chín muồi của các khoa học chuyên ngành, mặt khác lại nói lên nguồn gốc nhận thức của chính triết học. Triết học không thể xuất hiện từ mảnh đất trống, mà phải dựa vào các tri thức khác để khái quát và định hướng ứng dụng. Các loại hình tri thức cụ thể ở thế kỷ thứ VII tr.CN thực tế đã khá phong phú, đa dạng. Nhiều thành tựu mà về sau người ta xếp vào tri thức cơ học, toán học, y học, nghệ thuật, kiến trúc, quân sự và cả chính trị. ở Châu Âu thời bấy giờ đã đạt tới mức mà đến nay vẫn còn khiến con người ngạc nhiên. Giải phẫu học cổ đại đã phát hiện ra những tỷ lệ đặc biệt cân đối của cơ thể người và những tỷ lệ này đã trở thành những “chuẩn mực vàng” trong hội họa và kiến trúc cổ đại góp phần tạo 11 nên một số kỳ quan của thế giới 1. Dựa trên những tri thức như vậy, triết học ra đời và khái quát các tri thức riêng lẻ thành luận thuyết, trong đó có những khái niệm, phạm trù và quy luật. Như vậy, nói đến nguồn gốc nhận thức của triết học là nói đến sự hình thành, phát triền của tư duy trừu tượng, của năng lực khái quát trong nhận thức của con người. Tri thức cụ thể, riêng lẻ về thế giới đến một giai đoạn nhất định phải được tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa thành những khái niệm, phạm trù, quan điểm, quy luật, luận thuyết. đủ sức phổ quát để giải thích thế giới. Triết học ra đời đáp ứng nhu cầu đó của nhận thức. Do nhu cầu của sự tồn tại, con người không thỏa mãn với các tri thức riêng lẻ, cục bộ về thế giới, càng không thỏa mãn với cách giải thích của các tín điều và giáo lý tôn giáo. Tư duy triết học bắt đầu từ các triết lý, từ sự khôn ngoan, từ tình yêu sự thông thái, dần hình thành các hệ thống những tri thức chung nhất về thế glởi. Triết học chỉ xuất hiện khi kho tàng thức của loài người đã hình thành được một vốn hiểu biết nhất định và trên cơ sở đó, tư duy con người cũng đã đạt đến trình độ có khả năng rút ra được cái chung trong muôn vàn những sự kiện, hiện tượng riêng lẻ. • Nguồn gốc xã hội Triết học không ra đời trong xã hội mông muội dã man.Mác nói: “Triết học không treo lơ lửng bên ngoài thế giới, cũng như bộ óc không tồn tại bên ngoài con người”2 . Triết học ra đời khi nền sản xuất xã hội đã có sự phân công lao động và loài người đã xuất hiện giai cấp.
Giáo Trình Triết Học Mác - Lênin Năm 2019
Giáo trình nghiên cứu triết học 2019, trình bày lý thuyết rõ ràng, minh họa ví dụ thực tế, phù hợp sinh viên ., phục vụ nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn
Trường đại học
Bộ Giáo Dục Và Đào TạoChuyên ngành
Triết HọcNgười đăng
Ẩn danhThể loại
Tài Liệu Học TậpPhí lưu trữ
75 PointMục lục chi tiết
THÔNG TIN CHI TIẾT
Tác giả: GS. Phạm Vãn Đức
Người hướng dẫn: Đồng Chí Võ Văn Thưởng, Ủy Viên Bộ Chính Trị, Bí Thư Trung Ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên Giáo Trung Ương
Trường học: Bộ Giáo Dục Và Đào Tạo
Chuyên ngành: Triết Học
Đề tài: Giáo Trình Triết Học Mác - Lênin
Loại tài liệu: Tài Liệu Học Tập
Năm xuất bản: 2019
Địa điểm: Hà Nội
Trích đoạn nội dung tài liệu
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ