Chương 1 GIOI THIEU CHUNG VE NGHIEN CUU KHOA HOC TOM TAT Chương này trình bày bản chất của nghiên cứu khoa học. Nghiên cứu khoa học hướng tới phát triển tri thức mới. Bản chất của nghiên cứu khoa học là phát hiện và/hoặc kiểm định những quy luật mới trong cuộc sông. Cụ thé, đó chính là việc phát hiện và kiểm định mồi quan hệ giữa các nhân tố.
Hiện nay có sự lẫn lộn lớn giữa đề tài nghiên cứu khoa học và để án thực tiễn. Sự lẫn lộn này là một trong những nguyên nhân cơ bản làm hạn chế sự phát triển nghiên cứu khoa học, ít nhất là trong lĩnh vực kinh tế - quản lý. Đề án thực tiễn trực tiếp đề xuất giải pháp và lộ trình giải quyết vẫn đề của một cơ sở/địa phương/ngành ở một giai đoạn cụ thê. Kết quả của để án có ý nghĩa trực tiếp với đối tượng nghiên cứu và không hướng tới việc tổng quát hóa cho các đối tượng khác.
Nói cách khác, đề án hướng tới giải quyết ván đề cụ thể, đặc thù. Mặc dù vậy, một đề án vẫn có thể (và nên) áp chịng phương pháp và công cụ nghiên cứu khoa học trong thu thập và phân tích dữ liệu. Ba yếu tố cầu thành nên một công trình nghiên cứu: Ý tưởng, Thiết kế và Công cụ. Ý tưởng đẻ ra mục tiêu và ý nghĩa của nghiên cứu.
Thiết kế chi rõ băng chứng cần thu thập để chứng minh hoặc phản bác ý tưởng. Công cụ nói tới phương tiện, quy trình cu thé đề thực thi ý tưởng và thiết kế. Ý tưởng đến từ tri thức về lĩnh vực chuyên ngành và việc tổng quan nghiên cứu. Công cụ đến từ việc nắm bắt rõ các phương pháp nghiên cứu.
Thiết kế đến từ sự kết hợp giữa kiến thức chuyên ngành và phương pháp nghiên cứu. Ba yếu tố này phải ăn khớp với nhau mới tạo nên một nghiên cứu chuẩn mực. GIỚI THIẾU Trong quá trình giảng đạy học phản Phương pháp Nghiên cứu cho nghiên cứu xinh (NCS), tôi có nhiều cơ hội được trao đổi với các Hưhiên cứu xinh về chủ dé nghiên cứu của họ. Những cuộc trao đổi nh vập giúp tôi phát hiện ra những quan niệm chưa đúng về ngih1en cứu khoa học, ít nhát là trong lĩnh vực kinh tế, quản lý, quản trị kinh doanh.
Dưới dạy là ba cuộc trao doi nhur vay’, Cuộc trao đổi thu nhất: - Em định làm đề tài về giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho Tổng Công ty XYZ. - Vậy luận án sẽ đê xuất những nhóm giải pháp nào? - Da, tài chính, công nghệ, nghiên cứu phát triển, nguồn nhan lực, lãnh đạo, văn hóa công ty, marketing, quan tri san xuất, liên doanh liên két, quốc té hoa, M&A. Em rat lo vì sợ không bao quát hết vấn đề. - Em nghĩ giải pháp của em có thể được XYZ ứng dụng không? - Chắc là không ạ.
Nói chung là em không hiểu nội tình bằng họ! Cuộc trao dối thứ hai: - Em định làm đề tài về chính sách khuyến khích đầu tr phat triển công nghiệp ở tỉnh Nam Định. - Nhưng đã có nhiều đề tài tương tự ở tính khác như Thái Bình hay Ninh Bình rồi? - Nam Định rất ĐC THÙ, khác các tỉnh đó lắm mà thay! - Vậy liệu đẻ tài này có ý nghĩa gì cho người ngoài tính Nam Định không? - Có chứ thây. Các tỉnh đều GIÔNG nhau mà! Cuộc trao đổi thứ ba: - Em định làm về các giải pháp khôi phục ngành Bát động sản, giai đoạn 2013 — 2017. - Em định bao giờ bảo vệ? - Dạ khoảng 2017.
- Vậy khi đó có ai nghe các giải pháp của em nữa không? Ở cuộc trao đôi thứ nhất, NCS có ý định giải quyết vấn đề thực tiền của một đơn vị. Đây là một công việc quá sức (và không phù hợp) với NCS vì NCS không thê làm việc này tốt hơn ban soạn thảo chiến lược hoặc ban lãnh đạo của đơn vị. Câu hỏi đặt ra ở đây là “Nhà nghiên eúu có nên làm thay vai trò của nhà quản lý thực tiễn hay không?” Ở cuộc trao đổi thứ hai, NCS cũng định hướng nghiên cứu để giải quyết vấn đề của địa phương. Mâu thuẫn mà NCS gặp phải là mâu thuẫn giữa tính đặc thù và tính phố biến của vấn đề.
Một bộ giải pháp bắt buộc phải phản ánh tốt nhất các đặc điểm đặc thù của địa phương. Như vậy bộ giải pháp này khó có thể có tính lan tỏa tới các địa phương, cơ sở khác. Ngược lại, nếu NCS cố gắng giải quyết các vấn đề mang tính phổ biến ở nhiều địa phương, bộ giải pháp của NCS vừa khó có tính “mới”, vừa khó có thê áp dụng vào thực tế ở tùng địa phương. Vậy “chủ đề nghiên cứu nên tập trung vào vấn đề mang tính phổ biến hay vấn đề đặc thù của cơ sở?” Ở cuộc trao đổi thứ ba, NCS lựa chọn van dé thời sự nóng héi mà các nhà quản lý và các nhà kinh doanh bất động sản rất quan tâm ở thời điểm 2012 - 2013.
Tuy nhiên, khi NCS hoàn thành được bộ giải pháp đó thì tính thời sự đã trôi qua và có lẽ bộ giải pháp đó đã lạc hậu trước khi nó được trình bày trước hội đồng. Mâu thuẫn mà NCS gặp phải trong tình huống này là mâu thuẫn giữa tính thời điểm và tính trường tồn của vấn đề. Câu hỏi đặt ra là “Nghiên cứu nên hướng vào vấn đề thòi sự nóng hối nhưng chi mang tinh thoi điểm hay vấn đề mang tính trường ton?” Đây là những câu hỏi hết sức cơ bản đặt ra cho các nhà khoa học kinh tế và quản lý khi lựa chọn chủ đề nghiên cứu của mình. Những câu hỏi này liên quan tới bản chất của nghiên cứu khoa học.
Chương này sẽ trình bày những vẫn đề cơ bản về nghiên cứu khoa học và giúp các nhà nghiên cứu luận giải tốt hơn những chủ đề nghiên cứu của mình. Mục tiêu chính của chương là giúp người đọc: - - Nhận diện một số quan niệm sai lầm về nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực kinh tế, quản lý và quản trị kinh doanh; - Hiểu rõ hơn về mục tiêu và chuẩn mực của nghiên cứu khoa học; - _ Hiểu rõ hơn vẻ quy trình nghiên cứu; - - Áp dụng chuẩn mực nghiên cứu khoa học để kiểm tra và đánh giá các dé tài nghiên cứu. NGHIEN CUU LA Gi? ˆ £ +A * yA À oA ’ 1. Một số quan niệm sai lâm về nghiên cứu Quan niém 1: Mục tiêu nghiên cứu là xdy dung a eve , ove 4 A A .^ bộ giai pháp giat quyet van dé thie “ign Hiện nay mục tiêu quan trọng nhất của rất nhiều đề tài khoa học trong lĩnh vực kinh tế, quản lý, quản trị kinh doanh đều là đề xuất bộ giải pháp nhằm giải quyết van dé đặt ra cho các nhà hoạt động thực tiễn.
Ví dụ, trong một nghiên cứu về đổi mới đào tạo tiến sĩ (Nguyễn Văn Thắng, 201 I), 30 ludn an Tién si duoc tham khao đều đưa ra một mục tiêu cơ bản là đề xuất giải pháp cho các cơ quan thực tiễn, cho dù đó là Chính phủ (ví dụ: Tài chính cho khu vực sự nghiệp công), Bộ (ví dụ: Bộ Quốc phòng, Bộ Giáo dục), Tỉnh (ví dụ: Thái Nguyên), hay Doanh nghiệp (ví dụ: Doanh nghiệp lữ hành quốc tế). Nếu chúng ta nghiên cứu các đề tài khoa học các cấp khác thì sé thay rất nhiều các dé tai cũng đặt mục tiêu chính là để xuất giải pháp giải quyết vấn đề thực tiễn. Nhiều thành viên phản biện và hội đồng nghiệm thu đề tài cũng luôn đòi hỏi chương “Giải pháp” phải đưa ra các giải pháp đồng bộ và đặc biệt phải có độ dài cân đồi với các chương khác. Với mục tiêu như thế này, đa số các nhà khoa học đều tự đặt mình vào vị trí phải cung cấp bộ giải pháp toàn diện, đầy đủ cho các nhà hoạt động thực tiễn trong khi bản thân đề tài khoa học chỉ có thê nghiên cứu được một số khía cạnh của vấn đề.
Với cách tiếp cận như vậy, yêu cầu của đề tài khoa học không khác nhiều với một bản để án thực tiễn có thêm phần lý luận. Cách tiếp cận này không đúng vì các lý do sau: - Một quyết định thực tiễn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó có những yêu tô các nhà nghiên cứu khoa học không thê biết như cảm nhận của người ra quyết định, các nguồn lực “kín” (như thông tin bí mật, mạng lưới quan hệ, v. Bản thân vấn đề nghiên cứu cũng chỉ đề cập một số khía cạnh của vân đề thực tiễn mà nhà quản lý đang gặp. Vì vậy, bộ giải pháp của của nhà khoa học không nhất thiết phù hợp với quyết định trên thực tê.
Việc coi nặng các giải pháp do nhà khoa học đề xuất vừa không thực tiễn, vừa đi sai bản chất của đề tài nghiên cứu. - - Các vấn đề thực tiễn có tính thời điểm (ví dụ: Tái cấu trúc nền kinh tế sau khủng hoảng 2008 — 2010). Nếu đề tài hướng vào việc giải quyết các vấn đề có tính thời điểm thì giá trị của đề tài sẽ mất ngay sau khi thời điểm đó qua đi. Đề tài khoa học cần hướng tới những vấn đề có tính quy luật, tồn tại trong khoảng thời gian khá dài — đó chính là hiểu biết về quy luật vận động của sự vật hiện tượng hay tri thức mới.
- Mot dé tai nghiên cứu thường khó có thể bao quát hết mọi khía cạnh của vấn đề thực tiễn. Việc đưa ra bộ giải pháp đồng bộ thường dẫn đến tình trạng nhiều giải pháp không dựa trên kết quả nghiên cứu. Quan niệm 2: “Tam” cia mot dé tai khoa hoc phu thudc vao pham vi nghién cru, cap quán lý trong tng, quy mo mau neghién ctu Thế nào là một để tài đủ “tầm” một luận án Tiến sĩ? Một Dé tai cấp Bộ hay cấp Nhà nước? Đây là câu hỏi rất khó và hiện không có sự thống nhất. Các tiêu chí thường được sử dụng (dù chính thức hay ngầm ý) để đánh giá một dé tài có đủ “tầm” hay không bao gồm: ¡) Đề tài đề cập tới vấn đề lớn, có tính bao trùm nhiều vấn đề chuyên sáu khác; ii) Đề tài có phạm vi rộng (ví đụ: cả nước hoặc toàn ngành); ii) Dé tai dé cáp tới van dé cua quản lý cấp cao (ví dụ: cấp tỉnh, ngành, hoặc chỉnh phủ); và/hoặc iv) Quy mô mâu phải lớn.
Nói cách khác, “tầm” của dé tài chủ yếu đề cập tới độ bao phủ/phạm vi của vấn đề hoặc bậc quản lý đang đối mặt với vấn đề nghiên cứu.