Chương 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI Giới thiệu chương: Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá của loài người, là tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng, không thể thiếu được trong đời sống cũng như trong hoạt động của tất cả các ngành sản xuất xã hội. Chương này nhằm mục đích tìm hiểu khái niệm và đặc điểm của đất đai, đồng thời, đánh giá vai trò của đất đai trong các hoạt động của đời sống xã hội. Ờ phần tiếp theo, nội dung của chương đề cập đến khái niệm, vai trò và mục đích của quản lý nhà nước về đất đai. Phần tiếp theo phân tích các nội dung quản lý nhà nước về đất đai; Chức năng, nguyên tắc và phương pháp quản lý Nhà nước về đất đai.
Phần cuối chương là nội dung về đối tượng, nhiệm vụ các phương pháp nghiên cứu môn học, hướng dẫn người học cách nghiên cứu toàn bộ nội dung của môn học này. Khái niệm, vai trò và đặc điểm của đất đai 1. Các quan niệm về đất đai Đất đai là sản phẩm của tự nhiên, là tài nguyên vô cùng quý giá mà thiên nhiên ban tặng cho con người. Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng của môi trường sống, là địa bàn phân bố dân cư, xây dựng các công trình kinh tế, văn hóa, an ninh, quốc phòng… Như vậy, đất đai là điều kiện chung nhất đối với mọi quá trình sản xuất và hoạt động của con người.
Nói cách khác, không có đất sẽ không có sản xuất cũng như không có sự tồn tại của chính con người. Để tìm hiểu kỹ về đất đai đối với các lĩnh vực khác nhau chúng ta cần nghiên cứu các quan điểm về đất đai. Về mặt thuật ngữ khoa học, từ “đất” và “đất đai” có sự khác biệt. “Đất” trong tiếng Anh là “soil”, là thuật ngữ chung chỉ các vật chất nằm trên bề mặt trái đất, mang ý nghĩa là thổ nhưỡng, bao hàm các tính chất vật lý, hoá học, sinh học trong đất và phục vụ như là môi trường sinh sống của các dạng sự sống trên trái đất.
Còn “đất đai” tương đương với từ “land” trong tiếng Anh, là khoảng không gian cho các hoạt động của con người được thể hiện ở nhiều dạng sử dụng đất khác nhau, ở đây có thể được hiểu là lãnh thổ. Đất đai là một tổng thể vật chất gồm cả sự kết hợp giữa địa hình và không gian tự nhiên của thực thể vật chất đó. Một vạt (thửa) đất là một diện tích cụ thể của bề mặt Trái đất. - Về mặt kinh tế: Đất đai được xem như nguồn của cải chủ yếu của một quốc gia.
Đất đai không chỉ là tài nguyên mà còn là tài sản. Đất đai hình thành do hoạt động khai thác nhiều lần của con người, nó không chỉ đơn thuần là sản phẩm tự nhiên - vật chất đất đai, mà là tiền vốn dưới hình thức đất đai do lao động của con 3 người đã đầu tư vào đất, đó chính là thứ tài sản vô hình và hữu hình. Như vậy, đất và sản phẩm của nó có giá trị kinh tế khi nó được chuyển đổi thành hàng hóa hoặc dịch vụ có giá trị sử dụng và mong muốn được người tiêu dùng trả giá. -Về mặt địa lý và môi trường: Khi quản lý đất đai đòi hỏi chúng ta phải xem xét tính chất đa dạng của đất đai và sự kết hợp của các tính chất đó trên một vùng cụ thể.
Mỗi mảnh đất có vị trí duy nhất trên trái đất và đây là yếu tố rất quan trọng bởi vì tính chất vật lý và vị trí của mảnh đất có ảnh hưởng to lớn đến việc sử dụng đất. Đất đai cũng bị ảnh hưởng bởi các quá trình vật lý, hóa học, sinh học, kinh tế, xã hội và những quá trình này ảnh hưởng đến tính chất sử dụng đất. Một mảnh đất có thể được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau như nông nghiệp, công nghiệp, thương mại, ở, tạo cảnh quan. Quyết định sử dụng đất có thể bị ảnh hưởng bởi thời tiết, khí hậu, việc phân bố các nguồn lực tự nhiên, dân số, ngành nghề, xu hướng kinh tế, kỹ thuật, văn hóa.
Như vậy trên quan điểm địa lý đất đai được coi là nguồn lực tự nhiên và các đặc điểm vật lý của đất. Vị trí của nó quyết định đến việc sử dụng đất. - Về mặt xã hội: Ngày nay mọi người đều quan tâm đến đất được sử dụng như thế nào, các quyền và lợi ích liên quan đến đất được phân phối ra sao. Khi quỹ đất đai của mỗi quốc gia là có hạn, nhu cầu sử dụng đất cho các mục đích khác nhau ngày càng gia tăng đã gây sức ép đến quá trình phân phối sử dụng đất và đất ngày càng được sử dụng hiệu quả.
Trong xã hội luôn tồn tại những mâu thuẫn giữa các nhóm quan điểm như việc coi đất đai là cảnh đẹp và có chức năng môi trường và đất đai là hàng hóa, nhưng đến nay vẫn chưa có giải pháp rõ ràng để giải quyết các mâu thuẫn này. Cả hai quan điểm này đều được pháp luật ủng hộ. Pháp luật và hoạt động của các cơ quan quản lý Nhà nước đều phục vụ cho lợi ích công cộng. Do vậy, vì lợi ích công cộng mà nhà nước có thể đặt ra những hạn chế về xây dựng, về phân vùng quy hoạch, về phát triển và kiểm soát sử dụng đất đai.
Thông qua quy hoạch sử dụng đất, các quy định về quản lý, sử dụng và bảo vệ đất đai được các cơ quan quản lý nhà nước đưa ra và kiểm soát quá trình sử dụng đất của các đối tượng trong xã hội. - Về mặt pháp luật: Sử dụng đất đai xuất phát từ yêu cầu xã hội có tổ chức. Ở tất cả các nước nơi mà quyền sở hữu đất đai và thị trường đất đai không phải là thị trường tự do thì nhà nước phải là người quyết định việc sử dụng đất. Trong nền kinh tế thị trường sử dụng đất đai được quy định trong khuôn khổ pháp luật của mỗi nước.
Các thiết chế văn hóa, xã hội, chính trị, kinh tế, quản lý của một quốc gia được phản ánh trong hệ thống pháp luật của quốc gia đó. Những nhà chuyên môn về pháp luật ít quan tâm đến các tính chất vật lý của đất mà họ đặc biệt quan tâm đến những quyền và nghĩa vụ liên quan đến các lợi ích khác nhau 4 trong đất. Do đó về mặt pháp luật đất đai không chỉ là bề mặt mà cả trong lòng đất và cả không gian bên trên mặt đất và tất cả mọi thứ gắn với đất dù đó là sản phẩm tự nhiên hay nhân tạo. Như vậy, đối với những luật gia, đất đai là một khoảng không gian trải dài vô tận từ trung tâm trái đất tới vô cực trên bầu trời và liên quan đến nó là một loạt các quyền lợi khác nhau quyết định những hoạt động gì có thể thực hiện được với đất.
Tuy nhiên, ở những quốc gia thừa nhận quyền sở hữu tư nhân về đất đai thì quyền này cũng bị hạn chế. Nhiều nước quy định nhà nước có toàn quyền sở hữu trên không phận quốc gia, việc sử dụng đất của tư nhân không được làm tổn hại đến quyền, lợi ích của những người khác và phải sử dụng hợp lý. Như vậy, pháp luật quy định việc sử dụng, phát triển đất và cho phép người sử dụng đất có các quyền nhất định. Theo Hiến pháp 2013 đã chỉ rõ: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”.
Đồng thời, nhấn mạnh đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước, được quản lý theo pháp luật. Khái niệm đất đai cũng được cụ thể hóa trong Luật đất đai 2013 “Thửa đất là phần diện tích đất được giới hạn bởi ranh giới xác định trên thực địa hoặc được mô tả trên hồ sơ”. Trên quan điểm của quản lý nhà nước, có thể định nghĩa về đất đai như sau: “Đất đai là một vùng đất có ranh giới, vị trí, diện tích cụ thể và có các thuộc tính ảnh hưởng tới việc sử dụng đất trong hiện tại và tương lai của loài người, liên quan đến các quyền lợi khác nhau trong việc quyết định những gì có thể thực hiện được với đất”. Đặc tính của đất đai.
Đặc tính tự nhiên của đất đai - Đất đai là sản phẩm tự nhiên, không sản sinh và có khả năng tái tạo: Đất là vật thể thiên nhiên được hình thành từ lâu đời do kết quả của quá trình hoạt động tổng hợp của các yếu tố: đá, thực động vật, khí hậu, địa hình và thời gian. Chất lượng đất phụ thuộc vào đá mẹ, khí hậu, cỏ cây và sinh vật sống trên đất và trong lòng đất để tạo ra độ phì nhiêu của đất. Độ phì nhiêu là một đặc tính tự nhiên phản ánh chất lượng của đất, nó cung cấp các chất dinh dưỡng cho cây trồng trong quá trình sinh trưởng và phát triển. Khả năng phục hồi và tái tạo đất chính là khả năng phục hồi và tái tạo độ phì nhiêu của đất thông qua tự nhiên hay tác động của con người.
Như vậy, đất đai là sản phẩm tự nhiên, con người không thể tạo ra đất. Tuy vậy, thông qua hoạt động của mình con người có thể tác động vào đất để cải thiện 5 độ phì nhiêu của đất và biến đổi từ đất xấu thành đất tốt và từ đất không sử dụng được thành đất có thể sử dụng được. Tính hai mặt này của đất đai có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong quá trình tổ chức quản lý sử dụng đất. Một mặt phải nhận thức được đất đai là nguồn lực tự nhiên và phải biết cách tác động để cải thiện chất lượng đất.
Mặt khác, phải biết sử dụng hết sức tiết kiệm vì đó là nguồn tài nguyên không sản sinh được. - Tính bị giới hạn bởi diện tích bề mặt trái đất của đất đai: Sự giới hạn của đất đai được thể hiện ở sự giới hạn trong tổng diện tích đất đai của mỗi quốc gia, mỗi địa phương. Tuy vậy diện tích đất được sử dụng vào những mục đích cụ thể không hoàn toàn như vậy, thông qua việc chuyển đổi mục đích sử dụng làm lượng đất dùng cho những mục đích khác nhau có thể thay đổi.