Chương 1 giới thiệu khái quát về: phương pháp phân tích chi phí - lợi ích, lịch sử hình thành, khái niệm cơ bản, vai trò của phân tích chi phí - lợi ích, các loại phân tích chi phí - lợi ích, các ưu điểm và nhược điêm của mồi loại. Chương này cũng trình bày tổng quan quy trình thực hiện phân tích chi phí - lợi ích để người đọc cỏ hình dung ban đâu vê trình tự, nội dung phân tích, làm cơ sở để thực hiện phân tích chi phí - lợi ích ở những chương tiếp theo. Lịch sử phương pháp phân tích chi phí - lợi ích Phân tích chi phí - lợi ích là một công cụ/phưomg pháp phân tích chính sách được sử dụng khá phổ biến ở các quốc gia phát triên nhăm đánh giá bằng tiền tất cả lợi ích và chi phí trên quan điêm xã hội của một dự án, một chính sách, hoặc một chương trình phát triển với mục tiêu cung câp thông tin cho người ra quyết định xem xét, đánh giá và ra quyêt định lựa chọn những phương án sừ dụng nguồn lực tốt nhât trên khía cạnh đong góp cho phúc lợi xã hội. Đây là một công cụ rất cần thiêt đôi VỚI các nhà lãnh đạo khu vực công nói chung và các nhà quàn lý môi trượng nói rieng, đong thơi cũng là một nội dung quan trọng của khoa học Kinh tê môi trường.
Mặc dù nhà kinh tế học người Anh Alfred Marshall được xem là người đưa ra một số khái niệm chính thức đặt nền tảng cho phân tích chi phí - lợi ích, nhưng trên thực tế, ý tường về phân tích chi phí - lợi ích đã được hình thành từ thế kỷ 17. Vào năm 1667, William Petty, nhà kinh tê học người Anh đã xây dựng chương trình phòng chống dịch bệnh ở thành phô London và cho thấy lợi ích đem lại so với chi phí bỏ ra là 84:1. Ung dụng chính thức đầu tiên cùa phương pháp này là đánh giá giá trị xây dựng kênh đào Forth-to-Clyde ở Scotland năm 1768. Khái niệm cơ bàn về lợi ích xã 5 hội ròng, một trong những khái niệm quan trọng của phân tích chi phí - lợi ích được hình thành năm 1844, gắn với tên tuổi của kỳ sư người Pháp Jules Dupuit (1804 - 1866), người đã từng là kiến trúc sư trưởng của thành phố Paris.
Dupuit đã sử dụng các khái niệm về một phương pháp được xem là tiền thân của phân tích chi phí - lợi ích để phân tích chi phí cầu đường cho một dự án giao thông. Năm 1849, phương pháp sử dụng giá trị hiện tại để chuyển các giá trị phát sinh tại những thời điểm khác nhau về một thời điểm chung được chính thức hóa trong nghiên cứu của Faustman về lựa chọn thời điểm đốn cây rừng ở Đức. Ý tưởng về việc tất cả các cả lợi ích của toàn bộ cộng đồng cần phải đưa vào tính toán đã được Cotton áp dụng cho chương trình cải tiến hệ thống tưới tiêu ờ Án Độ vào năm 1854 Năm 1908 Albert Gallatin đã đề xuất so sánh các lợi ích và chi phí của các dư án liên quan tới tài nguyên nước của Mỹ. Sau đó, phân tích chi phí - lợi ích được ứng dụng trong các chương trình xây dựng đập của Quân đoàn Xây dựng Mỹ (Bộ Quôc phòng), các dự án cải tạo đât (Bộ Nội vụ) và dịch vụ bảo tồn đất đai (Bộ Nông nghiệp).
Quá trình phát triển cùa phương pháp phân tích chi phí - lợi ích liên quan chặt chẽ tới việc áp dụng Luật Hàng hải Liên Bang Mỹ (Federal Navigation Act) và Luật Kiểm soát lũ (Flood Control) năm 1936 Theo Luật Kiêm soát lũ: “.Chính phủ Liên bang nên cải thiện hoặc tham gia vào việc củi thiện các vùng nước ớ biển hoặc phụ lưu của chúng bao gồm các nhánh, vì mục đích kiêm soát lũ nếu lợi ích đạt được vượt quá chi p h í ước tính". Luật này yêu cầu chí được tiến hành các dự án nâng cấp hệ thống đường thủy khi tông lợi ích của một dự án vượt quá chi phí của dư án đó Vì vậy, nhóm chuyên gia kỹ thuật đã xây dựng những phương pháp có tính chất hệ thống nhằm đánh giá những lợi ích và chi phí. Mặc dù cho đến nay một số vấn đề về kỳ thuật của phân tích chi phí - lợi ích vẫn chưa được giải quyét hoàn toàn, song tại thời điểm đó, những nguyên tắc cơ bản.của phân tích chi phí - lợi ích đã được xây dựng khá chãc chắn. Khoảng 20 năm sau đó, vào những năm 1950, các nguyên tăc chung cho phân tích chi phí - lợi ích đã được thề chế hóa thành Luật trong Sách xanh.
Từ năm 1960 đến nay, các tiêu chuân và tiêu chí đánh giá chi phí - lợi ích không ngừng được cũng cố, hoàn thiện và được sừ dụng rộng rãi phổ biến ở nhiều quốc gia và nhiều lĩnh vực khác nhau. Khái niệm phân tích chi phí - lợi ích Phân tích chi phí - lợi ích (Cost Benefit Analysis - CBA) là một công cụ giúp cho các nhà hoạch định chính sách đưa ra những quyêt định hợp lý về sử dụng bền vững các nguồn lực khan hiếm, giảm thiêu hoặc loại bỏ nhùng tác động tiêu cực phát sinh trong các chương trình, kê hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Phân tích chi phí - lợi ích là một công cụ dùng đê đánh giá và so sánh giữa các phương án dựa trên quan diêm xã hội nhăm cung cấp thông tin cho việc ra quyết định lựa chọn phân bô nguôn lực. Theo Perkins (1994), phân tích kinh tế, còn gọi là phân tích chi phí - lợi ích, là phân tích mở rộng của phân tích tài chính, được sử dụng chủ yêu bởi các chính phủ và các cơ quan quôc tê đê xem xét một dụ án hay chính sách có làm tăng phúc lợi của cộng đồng hay không.
Nas (1996) cho rằng “Phân tích chi phí - lợi ích là một phương pháp được dùng để nhận dạng, lượng hóa bằng tiền tất cả cái “đươc ” và “mất ” tiềm năng từ một dự án nhất định nhằm xem xét phương án đó có đáng mong muốn hay không trên quan diêm xã hội nói chung’. Néu có được một khung phân tích hệ thống, các bên liên quan trong quá trình ra quyết định sẽ dễ dàng tim thấy một phương án chung tốt nhất của bất kỳ một dự án đầu tư nào. Boardman và các cộng sự (2011) xem phân tích chi phí - lợi ích là phương pháp đánh giá chính sách có lượng hóa băng tiên tât cả các kêt qua mà chính sách mang lại cho các thành viên trong xă hội. Thuật ngữ chính sách và dự án có thể được thay thế cho nhau.
Hay khái quát hơn, phân tích chi phí - lợi ích áp dụng cho các chính sách, các chương trình, dự án, các điều luật hoặc các can thiệp khác cùa Chính phù. Tông giá trị mà chính sách mang lại được đo lường bang lợi ích xã hội ròng (hay lợi ích ròng). Lợi ích xã hội ròng được tính bằng Lợi ích xã hội trừ đi Chi phí xã hội. Boardman (2018) cùng giái thích: Phân tích chi phí - lợi ích là một phương pháp đánh giá chính sách mà phương pháp này lượng hóa bằng tiên 7 giá trị của tất cả các kết quả của chính sách đối với mọi thành viên trong xã hội nói chung.
Lợi ích ròng xã hội là thước đo giá trị của chính sách”. Như vậy, có thể hiểu phân tích chi phí - lợi ích là một phương pháp thường được tiến hành trong quá trình ra quyết định nên chấp nhận hay loại bỏ một dự án/chính sách dựa trên tính hiệu quả của nó trên quan điểm xã hội. Phương pháp này đánh giá sự mong muốn tương đối giữa các phương án cạnh tranh khi sự lựa chọn được đo lường bằng giá trị kinh tế tạo ra cho xã hội. Ví dụ: Có nên cấp giấy phép khai thác gỗ ở các khu rừng nguyên sinh vùng Tây Nguyên để làm gỗ xẻ cho một dự án sản xuất đồ gỗ được đầu tư vào vùng ven biển Nam Trung Bộ hay không được xem như là một vấn đề lựa chọn giữa một số giải pháp thay thế như sau: ■ Cấp giấy phép khai thác gỗ ở các rừng nguyên sinh vùng Tây Nguyên; ■ Không cấp giấy phép nhưng cho phép khai thác và vận chuyển gỗ từ một khu rừng trồng ở phía Nam thuộc vùng Đông Nam Bộ; ■ Không cấp giấy phép nhưng cho phép khai thác và vận chuyển gỗ từ một khu rừng trồng ở phía Bắc, thuộc vùng ven biển Bắc Trung Bộ; ■ Không cấp giấy phép, nhưng cho phép khai thác và vận chuyển gỗ từ các khu rừng trồng ở nhiều địa phương khác nhau thuộc các vùng nói trên; ■ Câm khai thác gỗ tại bất cứ một khu rừng nào và ngừng các hoạt động làm gồ xẻ ờ vùng ven biển Nam Trung Bộ.
Phân tích chi phí - lợi ích là một trong các công cụ được sử dụng rộng rãi trong phân tích chính sách và dự án bởi nhiều lý do: Thứ nhất, phân tích chi phí - lợi ích giúp người phân tích hiểu rõ hơn vê các chi phí và lợi ích phát sinh khi thực hiện chính sách/dự án. Sự mong muôn cua một phương án phân bổ nguồn lực thể hiện qua kết quả của chính sách đối với mọi thành viên trong xã hội nói chung hay khi lợi ích xã hội do chính sách mang lại lớn hơn chi phí. Lợi ích và chi phí phải được nhận dạng và đánh giá về mặt xã hội như một tổng thể. Kết quả tạo ra cho xã hội có thể khác nhau giữa quan điểm cá nhân và xã hội.
Sự khác nhau về các kết quả được minh họa trong Hộp 1. Lợi ích xã hội ròng và lợi ích cá nhân ròng Công ty A dự định tiến hành một dự án về sản xuất vật liệu xây dựng. Khi dự án bắt đầu đi vào hoạt động, lợi ích dự án mang lại cho Công ty A dưới hình thức doanh thu là 200 tỷ đồng/năm, chi phí sản xuất A phải chịu là 150 tỷ đồng/năm. Ngoài ra, Công ty A phải đóng thuế thu nhập doanh nghiệp 20%/năm.
Công ty A tính lợi ích ròng hàng năm như sau: Lợi ích ròng của Công ty A trước thuế = Lợi ích - Chi phí = 200 tỷ - 150 tỷ = 50 tỷ đồng Thuế 20% trên 50 tỷ đồng = 50 tỷ X 20% = 10 tỷ đồng Lợi ích ròng của Công ty A sau thuế = 50 tỷ - 10 tỷ = 40 tỷ đồng Khi dự án được triển khai, người lao động thất nghiệp trong nước sẽ có việc làm với tổng mức lương là 50 tỷ đồng (đã được tính vào chi phí sản xuất của Công ty A nói trên).