NHẬP MÔN GIẢI PHẪU SINH LÝ HỌC * MỤC TIÊU: Kiến thức: 1. Trình bày được nguyên tắc gọi tên các chi tiết và sử dụng được thuật ngữ trong Giải phẫu. Gọi đúng tên và thuật ngữ giải phẫu trên tranh, mô hình giải phẫu và cơ thể sống. Năng lực tự chủ và trách nhiệm: 3.
Ý thức được vai trò và tác dụng của kiến thức giải phẫu trong việc học tập các môn học chuyên môn và lâm sàng. Thể hiện được năng lực tự học, tự nghiên cứu và chịu trách nhiệm về kết quả học tập của mình và sự chính xác trong công tác chuyên môn. * NỘI DUNG: Hình thái trong Giải phẫu học là một lĩnh vực cơ bản đầu tiên của sinh học và là cơ sở cho lĩnh vực sinh lý học. Giải phẫu học và sinh lý học là 2 môn không thể tách rời nhau được.
Hình thái luôn đi cùng chức năng, hình thái nào thì chức năng đó. Cho nên giải phẫu chức năng đã trở thành một quan điểm và phương châm cơ bản của nghiên cứu và mô tả giải phẫu. Tư thế giải phẫu và định hướng vị trí giải phẫu * Tư thế giải phẫu. Tư thế người đứng thẳng 2 tay buông xuôi, mắt và 2 bàn tay hướng về phía trước.
Các vị trí và cấu trúc giải phẫu được xác định theo 3 mặt phẳng không gian. * Các mặt phẳng giải phẫu - Mặt phẳng đứng dọc Là mặt phẳng đứng theo chiều trước sau. Có nhiều mặt phẳng đứng dọc song song với nhau, song chỉ có một mặt phẳng đứng dọc giữa nằm chính giữa cơ thể và chia cơ thể làm 2 nửa đối xứng, phải và trái. Ngoài ra, cho mỗi nửa cơ thể, mặt phẳng đứng dọc giữa còn là mốc để so sánh 2 vị trí trong và ngoài.
- Mặt phẳng đứng ngang Là mặt phẳng trán, là một mặt phẳng đứng theo chiều ngang, từ bên nọ sang bên kia, thẳng góc với mặt phẳng đứng dọc. Có nhiều mặt phẳng đứng ngang song song, song người ta thường lấy một mặt phẳng đứng ngang tượng trưng qua giữa chiều dày trước sau của cơ thể làm mốc, chia cơ thể thành phía trước và phía sau. - Mặt phẳng nằm ngang Là mặt phẳng nằm theo chiều ngang, thẳng góc với trục đứng thẳng của cơ thể hay thẳng góc với 2 mặt phẳng đứng. Có nhiều mặt phẳng nằm ngang khác nhau, song song với các chiều nằm ngang phải trái và trước sau của cơ thể.
Song 1 cũng có một mặt phẳng nằm ngang qua chính giữa cơ thể, lúc này cơ thể chia thành 2 phần trên và dưới. Mặt phẳng đứng ngang Mặt phẳng đứng dọc Mặt phẳng nằm ngang Vị trí số 0 và ba mặt phẳng cơ bản * Các vị trí chiều hướng giải phẫu - Trên: hay đầu, phía đầu. Dưới: hay đuôi, phía đuôi. - Trước: phía bụng.
Sau: phía lưng. - Phải trái là 2 phía đối lập nhau. - Trong ngoài là 2 vị trí so sánh theo chiều ngang ở cùng một phía đối với mặt phẳng đứng dọc giữa. - Gần hay phía gần, xa hay phía xa gốc chi.
- Quay và trụ hay phía trụ và phía quay. - Phía chày và mác tương ứng với ngoài và trong. - Phía gan tay và phía mu tay tương ứng với trước và sau bàn tay. - Phía gan chân và mu chân tương ứng với trên và dưới bàn chân.
* Nguyên tắc đặt tên trong giải phẫu học Đây là môn học mô tả nên phải có các nguyên tắc đặt tên cho các chi tiết để người học dễ nhớ và không bị lẫn lộn, những nguyên tắc chính là: - Lấy tên các vật trong tự nhiên đặt cho các chi tiết có hình dạng giống như thế. - Đặt tên theo hình học (chỏm, lồi cầu, tam giác, tứ giác. - Đặt tên theo chức năng (dạng, khép, gấp, duỗi. - Đặt tên theo vị trí nông sâu (gấp nông, gấp sâu.) 2 - Đặt tên theo vị trí tương quan trong không gian (trên, dưới, trước, sau, trong, ngoài, dọc, ngang.) dựa vào 3 mặt phẳng trong không gian là mặt phẳng đứng dọc, đứng ngang và nằm ngang.
Phương pháp nghiên cứu và học giải phẫu * Phương pháp nghiên cứu Danh từ giải phẫu học có nguồn gốc từ tiếng Hy lạp Anatome (cắt ra). Nói theo ngôn ngữ hiện nay là “phẫu tích”. Nhưng khi khoa học phát triễn thì chỉ quan sát bằng mắt không đủ, mà phải sử dụng nhiều phương pháp khác: Bơm tạng, nhuộm mầu, chụp Xquang, làm tiêu bản trong suốt, nhuộm tổ chức vv.tuỳ mục đích nhưng chủ yếu là đại thể và vi thể. * Phương pháp học giải phẫu - Xác và xương rời - Các xương rời - Các tiêu bản phẫu tích sẵn - Các mô hình nhân tạo bằng chất dẻo hay thạch cao.
- Tranh vẽ - Cơ thể sống - Hình ảnh Xquang - Các phương tiện nghe nhìn Nói tóm lại Giải phẫu học là một môn quan trọng của y học, người sinh viên cũng như người thầy thuốc phải nắm vững giải phẫu con người thì mới có thể chữa được bệnh cho người bệnh. Phải nhớ rằng "Người thầy thuốc mà không có kiến thức về giải phẫu thì chẳng những vô ích mà còn có hại". GIẢI PHẪU CÁC XƯƠNG VÀ KHỚP * MỤC TIÊU: Kiến thức: 1. Trình bày được chức năng, thành phần, hình thể ngoài, hình thể trong của hệ xương; mô tả sơ lược khớp bất động, khớp bán động, khớp động.
Mô tả được sơ lược hình thể và sự liên kết của các xương đầu mặt, xương thân mình và các xương của chi. Mô tả được cấu tạo và hoạt động chức năng của các khớp chính trong cơ thể. Chỉ được trên tranh, mô hình giải phẫu các chi tiết giải phẫu của các xương và khớp, đối chiếu được các bộ phận lên đó cơ thể sống. Năng lực tự chủ và trách nhiệm: 5.
Ý thức được vai trò và tác dụng của kiến thức giải phẫu sinh lý hệ xương khớp trong việc học tập các môn học chuyên môn và lâm sàng 6. Thể hiện được năng lực tự học, tự nghiên cứu và chịu trách nhiệm về kết quả học tập của mình và sự chính xác trong công tác chuyên môn. Chức năng Xương là yếu tố cứng rắn, nằm giữa các phần mềm của cơ thể, xương có các chức năng chính sau đây: * Chức năng bảo vệ Các xương hợp lại thành bộ xương. Một số xương tạo thành một hộp (hộp sọ), một ống (ống tuỷ) một khoang (lồng ngực chứa tim phổi và chậu hông chứa các tạng niệu dục).
* Chức năng nâng đỡ Bộ xương là trụ cột của cơ thể, xung quanh là các phần mềm, là chỗ bám của phần mềm và tạo nên hình dáng của cơ thể, phản ánh đặc trưng hình thể và đặc tính của loài người. * Chức năng vận động Các xương tiếp khớp với nhau và là nơi bám của phần lớn các cơ, là chỗ dựa cho cơ thể hoạt động, xương như một đòn bẩy, đóng vai trò thụ động trong bộ máy vận động, khi bị kích thích, cơ co lại hay duỗi ra làm xương chuyển động cơ thể chuyển động theo để đáp ứng một nhu cầu cần thiết. * Các chức năng khác Xương sản sinh huyết cầu và tham gia chuyển hoá Fe++, Ca++. Thành phần của bộ xương Có tổng số 206-208 xương của cơ thể chia làm 3 loại: * Xương thân mình - Cột sống có 32 - 34 đốt, kéo dài từ nền sọ đến xương cụt và được chia thành 5 đoạn: đoạn cổ có 7 đốt sống, đoạn ngực có 12 đốt sống, đoạn thắt lưng có 5 đốt sống, 4 đoạn cùng có 5 đốt sống, đoạn cụt có 3 - 5 đốt sống.
- Xương sườn: có 12 đôi - Xương ức: gồm cán thân và mũi ức - Khung chậu * Xương đầu mặt Có 8 xương sọ não, 14 xương sọ mặt và 1 xương móng. Các xương đầu mặt tạo thành hộp sọ và khối xương sọ mặt. * Xương chi - Chi trên dính vào thân bởi đai vai gồm có 64 xương. - Chi dưới dính vào thân bởi đai hông gồm có 62 xương.
Hộp sọ Xương ức Khớp khuỷu Xương cột sống Xương cẳng tay Xương đùi Xương cẳng chân Xương bàn chân Bộ xương người 1. Hình thể ngoài của xương * Xương dài - Đầu xương: là nơi tiếp khớp với xương khác, thường là chỏm hình cầu hay phẳng, có nhiều chỗ lồi chỗ lõm và chia làm hai loại: Tiếp khớp và không tiếp khớp. 5 + Diện khớp: Có thể lõm (như ổ chảo) hoặc lồi lồi (như lồi cầu, ròng rọc.) + Diện không khớp: có tên gọi khác nhau như lồi củ, lồi cầu, gai. + Mặt: Có các chỗ bám của cơ hay cơ đi qua.
- Cổ xương: Là nơi nối tiếp giữa đầu và thân xương. - Thân xương: Hình lăng trụ tam giác có các mặt các bờ. Mặt xương có thể nhẵn có thể gồ gề để cho gân cơ bám hay mạch thần kinh đi qua. * Xương dẹt Mô tả các mặt của xương, các bờ và các góc.
Hình thể trong và cấu trúc Cưa dọc hay cưa ngang một xương ta thấy : * Lớp cốt mạc: bao phủ mặt ngoài của xương trừ diện khớp, gồm hai lá: - Lá trong có nhiều mạch máu có tác dụng sinh xương. - Lá ngoài che chở xương có nhiều thần kinh. * Lớp xương đặc: Là một lớp xương mịn rắn mầu vàng nhạt, dầy ở giữa mỏng ở hai đầu. Xương đặc gồm các tấm xương xếp thành nhiều lớp đồng tâm quanh một ống nhỏ có chứa mạch máu (ống Have) đó là hệ thống Have điển hình (trên những lá xương có chứa tế bào xương thông với nhau, những hệ thống Have gần nhau cũng thông với nhau).
* Xương xốp: Ở bên trong xương đặc, gồm các bè xương bắt chéo nhau có những hốc tuỷ lớn thông với nhau bởi những vách ngăn không kín (có chứa tế bào xương) các tế bào xương có thể xếp thành hình nan quạt, hình cung làm cho xương có độ chắc cao nhất. * Ống tuỷ: Ở xương dài các bè xương xốp tác dụng làm nhẹ xương và tăng sức chống đỡ. Trong ống tuỷ có tuỷ, tuỷ đỏ có nhiều ở thai nhi và trẻ sơ sinh. Tuỷ đỏ là cơ quan tạo huyết (người lớn có khoảng 1300gam).
Tuỷ vàng ở ống tuỷ các xương dài người lớn có nhiều tế bào mỡ. 6 Cấu trúc của các loại xương 1. Quy luật phát triển xương - Quy luật tuổi dậy thì Trước tuổi dậy xương phát triển chiều dài, sau tuổi dậy xương phát triển chiều dầy. - Quy luật dãn cách Có sự phát triển không đồng đều về chiều dài và độ dầy hoặc hai xương gần nhau một phát triển, một tạm dừng, chúng thay đổi nhau.
- Quy luật tỷ lệ Tuổi nhỏ - 6 tuổi: 4 - 6 cm/năm. 15 - 25 tuổi: chiều dài > chiều dầy.