Giáo trình Tài chính Tiền tệ - Bộ môn Tài chính Ngân hàng phần 1

Giáo trình môn tài chính tiền tệ phần 1 cung cấp kiến thức nền tảng về bản chất, chức năng của tiền tệ, hệ thống tài chính và quy luật lưu thông tiền tệ.

Chuyên ngành

Tài chính - Ngân hàng

Tác giả

Ẩn danh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo trình
92
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về tiền tệ trong giáo trình tài chính tiền tệ

Môn học Tài chính Tiền tệ giữ vị trí nền tảng trong hệ thống đào tạo khối ngành kinh tế. Môn học tổng hợp kiến thức cốt lõi từ Tài chính học và Lưu thông Tiền tệ - Tín dụng. Nội dung chương trình gắn liền trực tiếp với điều kiện kinh tế vĩ mô. Nghiên cứu tiền tệ là bước khởi đầu quan trọng để hiểu rõ cấu trúc hệ thống tài chính hiện đại. Tiền tệ hình thành từ nhu cầu thực tiễn của nền sản xuất xã hội. Khi sản xuất phát triển, hoạt động trao đổi trực tiếp hàng đổi hàng bộc lộ nhiều hạn chế lớn. Nhu cầu tìm kiếm một phương tiện trung gian thanh toán xuất hiện tất yếu. Tiền tệ ra đời giải quyết triệt để sự trùng hợp về nhu cầu trong giao dịch thương mại. Học phần này trang bị hệ thống lý luận vững chắc về nguồn gốc và bản chất tiền tệ. Kiến thức cơ bản tạo tiền đề để phân tích các vấn đề phức tạp hơn như tín dụng, ngân hàng và chính sách tiền tệ. Sinh viên nắm vững lý thuyết tiền tệ sẽ dễ dàng tiếp cận các môn kinh tế chuyên ngành chuyên sâu.

1.1. Vị trí và vai trò môn học Tài chính Tiền tệ

Môn học Tài chính Tiền tệ đóng vai trò kiến thức cơ sở bắt buộc trong chương trình đào tạo kinh tế. Môn học kết hợp nội dung lý thuyết tài chính và cơ chế vận hành lưu thông tiền tệ. Người học được trang bị góc nhìn toàn diện về dòng tiền trong nền kinh tế thị trường. Môn học cung cấp hệ thống thuật ngữ chuẩn xác và các quy luật kinh tế chi phối dòng vốn. Hiểu rõ tài chính tiền tệ giúp giải mã các biến động vĩ mô như lạm phát, lãi suất và tỷ giá hối đoái. Đây là bước đệm thiết yếu để nghiên cứu chuyên sâu các chuyên ngành tài chính doanh nghiệp, ngân hàng thương mại và thị trường chứng khoán.

1.2. Mục tiêu nghiên cứu cơ bản về tiền tệ phần 1

Nội dung cơ bản về tiền tệ phần 1 tập trung làm rõ nguồn gốc lịch sử và bản chất kinh tế của tiền tệ. Người học khám phá quá trình tiến hóa từ hình thái giá trị giản đơn đến hình thái tiền tệ hiện đại. Chương trình làm sáng tỏ các tranh luận kinh tế học kinh điển về định nghĩa tiền tệ. Nội dung này giúp phân biệt rõ ràng giữa tiền tệ danh nghĩa và các phương tiện thanh toán trung gian như thương phiếu, chi phiếu. Hoàn thành phần 1 giúp xây dựng tư duy logic chuẩn xác về cơ chế thanh toán và định giá tài sản trong nền kinh tế.

II. Phân tích nguồn gốc bản chất và các hình thái tiền tệ

Nguồn gốc của tiền tệ bắt nguồn trực tiếp từ quá trình phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hóa. Karl Marx khẳng định nguồn gốc tiền tệ nằm ngay trong chính bản thân hàng hóa. Khi lực lượng sản xuất phát triển, phân công lao động xã hội ngày càng sâu sắc. Nền sản xuất hàng hóa mở rộng làm gia tăng khối lượng giao dịch trên thị trường. Hình thái giá trị đã trải qua bốn giai đoạn tiến hóa quan trọng. Giai đoạn đầu tiên là hình thái giá trị giản đơn hay ngẫu nhiên. Tiếp theo là hình thái giá trị đầy đủ hay mở rộng. Khi quy mô giao dịch tăng lên, hình thái vật ngang giá chung xuất hiện để đơn giản hóa quá trình thanh toán. Cuối cùng, hình thái tiền tệ ra đời khi vàng và bạc độc chiếm vai trò vật ngang giá chung. Bản chất của tiền tệ thể hiện ở hai thuộc tính cơ bản. Thứ nhất, tiền tệ là một loại hàng hóa đặc biệt được tách ra làm vật ngang giá chung cho mọi hàng hóa khác. Thứ hai, tiền tệ thể hiện mối quan hệ sản xuất và quan hệ xã hội giữa những người sản xuất hàng hóa. Sự phát triển này thúc đẩy lưu thông hàng hóa mở rộng không ngừng.

2.1. Các giai đoạn phát triển hình thái giá trị

Quá trình tiến hóa hình thái giá trị phản ánh sự phát triển của nền sản xuất. Hình thái giản đơn xuất hiện khi trao đổi mang tính ngẫu nhiên và trực tiếp. Hình thái đầy đủ hình thành khi một hàng hóa trao đổi thường xuyên với nhiều hàng hóa khác. Sự mở rộng thị trường đòi hỏi hình thái vật ngang giá chung để thống nhất thước đo trao đổi. Khi kim loại quý như vàng độc chiếm vị trí vật ngang giá chung, hình thái tiền tệ chính thức xác lập. Sự chuyển biến này giúp loại bỏ hoàn toàn các rào cản trao đổi cổ xưa, tạo bước nhảy vọt cho thương mại quốc tế phát triển.

2.2. Bản chất kinh tế và quan điểm của các học phái

Các học phái kinh tế đưa ra nhiều góc nhìn đa dạng về bản chất tiền tệ. Karl Marx xem tiền tệ là hàng hóa đặc biệt kết tinh lao động xã hội trừu tượng. Các nhà kinh tế học cổ điển nhấn mạnh vai trò trung gian trao đổi thuần túy của tiền tệ. Irving Fisher tập trung vào giấy bạc ngân hàng trong phân tích lưu thông. Trong khi đó, các nhà kinh tế hiện đại mở rộng khái niệm tiền tệ sang các công cụ tín dụng và bút tệ. Dù quan điểm khác biệt, tất cả đều công nhận tiền tệ là phương tiện thanh toán phổ biến và thước đo giá trị chuẩn mực.

III. Phương pháp xác định vai trò và chức năng của tiền tệ

Nghiên cứu chức năng của tiền tệ đòi hỏi phương pháp tiếp cận khoa học và hệ thống. Tiền tệ thực hiện năm chức năng cơ bản trong nền kinh tế thị trường. Chức năng đầu tiên là thước đo giá trị, dùng để biểu hiện và đo lường giá trị của mọi hàng hóa. Tiền tệ làm phương tiện lưu thông giúp quá trình mua bán diễn ra thuận lợi, tách rời hành vi mua và bán. Chức năng phương tiện cất trữ cho phép tiền tệ tích lũy sức mua qua thời gian. Tiền tệ làm phương tiện thanh toán khi thực hiện chi trả các nghĩa vụ tài chính như nộp thuế, trả nợ hoặc chi trả dịch vụ. Khi trao đổi vượt ra khỏi biên giới quốc gia, tiền tệ đảm nhận chức năng tiền tệ thế giới. Việc phân loại tiền tệ dựa trên tính thanh khoản là phương pháp quan trọng trong quản lý tiền tệ hiện đại. Các khối tiền như M1, M2, M3 phản ánh mức độ sẵn sàng thanh toán của các tài sản tài chính. Hiểu rõ từng chức năng giúp các cơ quan quản lý điều tiết cung tiền linh hoạt, kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô hiệu quả.

3.1. Hệ thống năm chức năng kinh tế của tiền tệ

Năm chức năng tiền tệ có mối liên hệ hữu cơ mật thiết. Thước đo giá trị cho phép định giá hàng hóa bằng đơn vị tiền tệ tiêu chuẩn. Phương tiện lưu thông xóa bỏ rào cản thời gian và không gian của hoạt động mua bán. Phương tiện cất trữ giúp bảo tồn tài sản khi tiền tệ có sức mua ổn định. Phương tiện thanh toán gắn liền với sự phát triển của hệ thống tín dụng và thương mại điện tử. Chức năng tiền tệ thế giới phục vụ thanh toán quốc tế và chuyển dịch vốn qua biên giới. Mỗi chức năng phát huy hiệu quả tùy thuộc vào mức độ phát triển kinh tế.

3.2. Phương pháp đo lường các khối tiền tệ hiện đại

Phương pháp đo lường tiền tệ dựa trên mức độ thanh khoản của từng nhóm tài sản. Khối tiền M1 bao gồm tiền mặt lưu hành và tiền gửi không kỳ hạn có thể thanh toán ngay. Khối tiền M2 mở rộng thêm tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm tại các tổ chức tín dụng. Khối tiền M3 và L bao gồm thêm các công cụ thị trường tiền tệ dài hạn hơn như trái phiếu, kỳ phiếu. Việc phân tích chính xác các khối tiền giúp ngân hàng trung ương đánh giá tổng lượng tiền cung ứng, từ đó đưa ra các quyết định lãi suất và can thiệp tiền tệ chuẩn xác.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn về lưu thông tiền tệ

Hiểu biết thấu đáo về tiền tệ mang lại giá trị ứng dụng to lớn trong quản trị kinh tế và tài chính. Tiền tệ không chỉ là công cụ trao đổi thụ động mà là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Khối lượng tiền tệ trong lưu thông tác động trực tiếp đến mức giá chung, lãi suất thị trường và sản lượng quốc gia. Quy luật lưu thông tiền tệ đòi hỏi mức cung tiền phải cân bằng với nhu cầu tiền tệ thực tế của nền kinh tế. Sự mất cân đối giữa cung và cầu tiền tệ sẽ dẫn tới lạm phát hoặc giảm phát. Lạm phát làm suy giảm sức mua của đồng tiền, gây xáo trộn phân phối thu nhập xã hội. Ngược lại, giảm phát làm đình trệ sản xuất và gia tăng thất nghiệp. Trong kỷ nguyên số, tiền tệ đang trải qua cuộc cách mạng công nghệ sâu sắc. Tiền điện tử, ngân hàng số và thanh toán không dùng tiền mặt đang thay thế dần tiền mặt truyền thống. Nắm vững lý thuyết cơ bản giúp các nhà quản lý hoạch định chính sách tiền tệ hiệu quả, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp tối ưu hóa quản trị dòng tiền.

4.1. Ứng dụng quy luật lưu thông tiền tệ vào kinh tế

Quy luật lưu thông tiền tệ của Karl Marx xác định lượng tiền cần thiết cho lưu thông hàng hóa. Mức cung tiền phụ thuộc vào tổng giá cả hàng hóa và tốc độ lưu thông của đồng tiền. Khi cung tiền vượt quá nhu cầu thực tế, giá trị đồng tiền giảm và lạm phát bùng phát. Nhà nước sử dụng công cụ này để kiểm soát khối lượng tiền mặt và tiền gửi ngân hàng. Ứng dụng đúng quy luật giúp duy trì sự ổn định của hệ thống tài chính quốc gia, bảo vệ sức mua cho người lao động và kích thích đầu tư sản xuất kinh doanh bền vững.

4.2. Xu hướng phát triển của tiền tệ kỹ thuật số

Sự bùng nổ của công nghệ thông tin đang định hình lại hình thái tiền tệ toàn cầu. Tiền pháp định kỹ thuật số của ngân hàng trung ương (CBDC) đang được nghiên cứu và triển khai rộng rãi. Thanh toán di động và ví điện tử giúp giảm mạnh chi phí in ấn, vận chuyển và bảo quản tiền mặt. Tiền kỹ thuật số tăng tốc độ chu chuyển vốn trong nền kinh tế, nâng cao hiệu quả thanh toán quốc tế. Tuy nhiên, xu hướng này cũng đặt ra thách thức về an ninh mạng, bảo mật dữ liệu tài chính và yêu cầu hoàn thiện khung pháp lý quản lý tiền tệ số.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

18/08/2026
Giáo trình môn tài chính tiền tệ phần 1

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TIỀN TỆ VÀ LƯU THÔNG TIỀN TỆ I. NGUỒN GỐC VÀ BẢN CHẤT CỦA TIỀN TỆ: Từ rất sớm trong lịch sử loài người đã xuất hiện nhu cầu phải có một hình thức tiền tệ làm trung gian trao đổi. Tuy nhiên quá trình phát triển các hình thái của tiền tệ cho thấy khó có thể đưa ra một định nghĩa về tiền tệ được các nhà kinh tế học thống nhất và chấp nhận. Trong tác phẩm góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị, K.

Marx viết “ Một khi người ta hiểu rằng nguồn gốc của tiền tệ ở ngay trong hàng hoá, thì người ta đã khắc phục được các khó khăn chính trong sự phân tích tiền tệ”. Nhưng Marx cũng chỉ ra rằng người chỉ nghiên cứu tiền tệ và các hình thái tiền tệ trực tiếp sinh ra từ trao đổi hàng hoá chứ không nghiên cứu các hình thái tiền tệ thuộc về một giai đoạn cao hơn của quá trình sản xuất như tiền tín dụng chẳng hạn. Khi nói đến tiền tệ, hầu hết các nhà kinh tế học trước đây cũng cho rằng đó là phương tiện trung gian trao đổi. Điều này chỉ phù hợp và đúng với giai đoạn ban đầu khi con người bắt đầu sử dụng công cụ tiền tệ.

Quá trình phát triển của tiền tệ cho thấy tiền tệ không chỉ có vai trò trung gian trao đổi mà nó còn giúp cho chúng ta thực hiện các hoạt động đầu tư tín dụng… Ngoài ra, còn có những vật thể khác giữ vai trò trung gian trao đổi như chi phiếu, thương phiếu, kỳ phiếu,… mà các nhà kinh tế học vẫn không thống nhất với nhau có phải là tiền tệ hay không. Irving Fisher cho rằng chỉ có giấy bạc ngân hàng là tiền tệ, trong khi Conant Paul Warburg cho rằng chi phiếu cũng là tiền tệ. Samuelson lại cho rằng tiền là bất cứ cái gì mà nhờ nó người ta có thể mua được hầu hết mọi thứ. Theo Charles Rist thì cái thật quan trọng đối với nhà kinh tế không phải là sự thống nhất về một định nghĩa thế nào là tiền tệ mà phải biết và hiểu hiện tượng tiền tệ.

CÁC HÌNH THÁI TIỀN TỆ: Nghiên cứu lịch sử phát sinh và phát triển của tiền tệ cho thấy tiền tệ đã trải qua nhiều hình thái: hoá tệ, tín tệ và bút tệ. Hoá tệ: Một hàng hoá nào đó giữ vai trò làm vật trung gian trao đổi được gọi là hoá tệ, hoá tệ bao gồm hoá tệ không kim loại và hoá tệ bằng kim loại. – Hoá tệ không kim loại. Sản xuất và trao đổi hàng hoá ngày càng phát triển.

Sự trao đổi không còn ngẫu nhiên, không còn trên cơ sở của định giá giản đơn. Trao đổi đã vượt khỏi cái khung nhỏ hẹp một vài hàng hoá, giới hạn trong một vài địa phương. Sự trao đổi ngày càng nhiều hơn đó giữa các hàng hoá đòi hỏi phải có một hàng hoá có tính đồng nhất, tiện dụng trong vai trò của vật ngang giá, có thể tạo điều kiện thuận lợi trong trao đổi, và bảo tồn giá trị. Những hình thái tiền tệ đầu tiên có vẻ lạ lùng, nhưng nói chung là những vật trang sức hay những vật có thể ăn.

Thổ dân ở các bờ biển Châu Á, Châu Phi, trước đây đã dùng vỏ sò, vỏ ốc làm tiền. Lúa mì và đại mạch được sử dụng ở vùng Lưỡng Hà, gạo được dùng ở quần đảo Philippines. Trước Công nguyên, ở Trung Quốc kê và lụa được sử dụng làm tiền… Tiền tệ bằng hàng hoá có những bất tiện nhất định của nó trong quá trình phục vụ trao đổi như không được mọi người mọi nơi chấp nhận, dễ hư hỏng, không đồng nhất … do đó dẫn đến việc sử dụng hoá tệ bằng kim loại. – Hoá tệ bằng kim loại.

Khi sản xuất và trao đổi hàng hoá phát triển kèm theo sự mở rộng phân công lao động xã hội đồng thời với sự xuất thiện của Nhà nước và giao dịch quốc tế thường xuyên. Kim loại ngày càng có những ưu điểm nổi bật trong vai trò của vật ngang giá bởi những thuộc tính bền, gọn, có giá trị phổ biến,… Những đồng tiền bằng kim loại: đồng, chì, kẽm, thiếc, bạc, vàng xuất hiện thay thế cho các hoá tệ không kim loại. Tiền bằng chì chỉ xuất hiện đầu tiên ở Trung Quốc dưới dạng một thỏi dài có lỗ ở một đầu để có thể xâu thành chuỗi. Tiền bằng hợp kim vàng và bạc xuất hiện đầu tiên vào những năm 685 – 652 trước Công nguyên ở vùng Tiểu Á và Hy Lạp có đóng dấu in hình nổi để đảm bảo giá trị.

Các đồng tiền bằng kim loại đã sớm xuất hiện ở vùng Địa Trung Hải. Tiền kim loại đầu tiên ở Anh làm bằng thiếc, ở Thuỵ Sĩ và Nga bằng đồng. Khi bạch kim mới được phát hiện, trong thời kỳ 1828 2 – 1844, người Nga cho đó là kim loại không sử dụng được nên đem đúc tiền. Nếu so với các loại tiền tệ trước đó, tiền bằng kim loại, bên cạnh những ưu điểm nhất định cũng đưa đến những bất tiện trong quá trình phát triển trao đổi như: cồng kềnh, khó cất giữ, khó chuyên chở… Cuối cùng, trong các kim loại quý ( quí kim) như vàng, bạc, những thứ tiền thật sự chúng có giá trị nội tại trở nên thông dụng trong một thời gian khá lâu cho đến cuối thế kỷ thứ XIX và đầu thế kỷ thứ XX.

Khoảng thế kỷ thứ XVI ở Châu Âu nhiều nước sử dụng vàng làm tiền, có nước vừa sử dụng vàng vừa sử dụng bạc. Các nước Châu Á sử dụng bạc là phổ biến. Việc đúc quý kim thành tiền ngay từ đầu được coi là vương quyền, đánh dấu kỷ nguyên ngự trị của lãnh chúa vua chúa. Lịch sử phát triển của tiền kim loại quý đã trải qua ba biến cố chủ yếu, quyết định đến việc sử dụng phổ biến tiền bằng kim loại quý.

– Sự gia tăng dân số và phát triển đô thị ở các nước Châu Âu từ thế kỷ XIII đưa đến sự gia tăng nhu cầu trao đổi. Các mỏ vàng ở Châu Âu không đủ cung ứng. – Từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX bạch kim loại bị mất giá, trong thời gian dài vàng, bạc song song được sử dụng làm tiền; các nước Châu Âu sử dụng cả vàng lẫn bạc. Chỉ các nước Châu Á mới sử dụng bạc (do không đủ vàng) đến cuối thế kỷ XIX bạc ngày càng mất giádo vậy các nước Châu Âu và cả Hoa Kỳ quyết định và sử dụng vàng, các nước Chấu Á như Nhật Bản, Ấn Độ, Trung Hoa do lệ thuộc sự nhập cảng nguyên liệu máy móc… từ Phương Tây nên cũng bãi bỏ bạc sử dụng vàng.

Ở Đông Dương, bạc được sử dụng làm tiền từ 1885 đến 1931. Đến năm 1931 đồng bạc Đông Dương từ bản vị bạc sang bản vị vàng, có thể cho rằng, khoảng từ 1935 chỉ còn một kim loại quý được tất cả các nước chấp nhận làm tiền trên thế giới là vàng. Tín tệ: Tín tệ được hiểu là thứ tiền tự nó không có giá trị nhưng do sự tín nhiệm của mọi người mà nó được lưu dụng. Tín tệ có thể bao gồm tiền bằng kim loại và tiền giấy.

3 – Tiền bằng kim loại thuộc hình thái tín tệ khác với kim loại tiền tệ thuộc hình thái hoá tệ. Ở hình thái này giá trị nội tại của kim loại thường không phù hợp với giá trị danh nghĩa. – Tiền giấy bao gồm tiền giấy khả hoán và tiền giấy bất khả hoán. – Tiền giấy khả hoán là thứ tiền được lưu hành thay cho tiền vàng hay tiền bạc ký thác ở ngân hàng.

Bất cứ lúc nào mọi người cũng có thể đem tiền giấy khả hoán đó đổi lấy vàng hay bạc có giá trị tương đương với giá trị được ghi trên tiền giấy khả hoán đó. Ở Trung Hoa từ đời Tống đã xuất hiện tiền giấy. Vì những nhu cầu mua bán, các thương gia hình thành từng thương hội có nhiều chi nhánh ở khắp các thị trấn lớn. Các thương gia ký thác vàng hay bạc vào hội sở của thương hội rồi nhận giấy chứng nhận của hội sở thương hội, với giấy chứng nhận này các thương gia có thể mua hàng ở các thị trấn khác nhau có chi nhánh của thương hội, ngoài loại giấy chứng nhận trên triều đình nhà Tống còn phát hành tiền giấy và được dân chúng chấp nhận.

Ở Việt Nam vào cuối đời Trần, Hồ Quý Ly đã thí nghiệm cho phát hành tiền giấy. Nhân dân ai cũng phải nộp tiền đồng vào cho Nhà nước, cứ 1 quan tiền đồng đổi được 2 quan tiền giấy, việc sử dụng tiền giấy của Hồ Quý Ly thất bại vì nhà Hồ sớm bị lật đổ, dân chưa quen sử dụng tiền giấy và sai lầm khi xác định quan hệ giữa tiền đồng và tiền giấy (bao hàm ý nghĩa tiền giấy có giá trị thấp hơn). Nguồn gốc của tiền giấy chỉ có thể được hiểu rõ khi xem xét lịch sử tiền tệ các nước Châu Âu. Từ đầu thế kỷ thứ XVII, ở Hà Lan ngân hàng Amsterdam đã cung cấp cho những thân chủ gởi vàng vào ngân hàng những giấy chứng nhận bao gồm nhiều tờ nhỏ.

Khi cần, có thể đem những tờ nhỏ này đổi lấy vàng hay bạc tại ngân hàng. Trong thanh toán cho người khác các giấy nhỏ này cũng được chấp nhận. Sau đó một ngân hàng Thụy Điển tên Palmstruch đã mạnh dạn phát hành tiền giấy để cho vay. Từ đó ngân hàng Palmstruch có khả năng cho vay nhiều hơn vốn tự có.

Với nhiều loại tiền giấy được phát hành, lưu thông tiền tệ bị rối loại vì nhiều nhà ngân hàng lạm dụng gây nhiều thiệt hại cho dân chúng. Do đó, vua chúa các nước phải can thiệp vì cho rằng việc đúc tiền từ xưa là vương quyền và mặt khác việc 4 phát hành tiền giấy là một nguồn lợi to lớn. Vương quyền các nước Châu Âu thừa nhận một ngân hàng tự có quyền phát hành tiền giấy với những điều kiện nhất định: + Điều kiện khả hoán: có thể đổi lấy bất cứ lúc nào tại ngân hàng phát hành + Điều kiện dự trữ vàng làm đảm bảo: ban đầu là 100% sau còn 40% + Điều kiện phải cho Nhà nước vay không tính lãi khi cần thiết. – Tiền giấy bất khả hoán là thứ tiền giấy bắt buộc lưu hành, mọi người không thể đem tiền giấy này đến ngân hàng để đổi lấy vàng hay bạc.

Nguồn gốc của tiền bất khả hoán là bởi những nguyên nhân sau: + Thế chiến thứ nhất đã làm cho các quốc gia tham chiến không còn đủ vàng để đổi cho dân chúng. Nước Anh từ năm 1931 đã cưỡng bức lưu hành tiền giấy bất khả hoán, nước Pháp năm 1936.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ