mở đầu, ngƣời học có khả năng: - Trình bày đƣợc những kiến thức chung về marketing, các chiến lƣợc marketing cơ bản; - Phân tích đƣợc chức năng, vai trò của hoạt động marketing du lịch. Nội dung chính: 1. Sự hình thành và phát triển của marketing Để tồn tại và phát triển, các nhà kinh doanh cần phải giải quyết hàng loạt các vấn đề kinh tế, kỹ thuật và quản lý kinh doanh. Trong những vấn đề đó luôn luôn nổi bật hai vấn đề cần giải quyết một cách thống nhất là sản xuất và tiêu thụ.
Trong kinh doanh, sản xuất luôn là vấn đề cơ bản và gốc rễ nhất, quyết định toàn bộ quá trình tái sản xuất hàng hóa. Tuy nhiên vấn đề tiêu thụ các sản phẩm do doanh 13 nghiệp đã sản xuất ra cũng đóng một vai trò cực kỳ quan trọng. Trong nhiều trƣờng hợp, vấn đề tiêu thụ có ý nghĩa quyết định sự sống còn của doanh nghiệp. Vì vậy, cùng với sự phát triển của sản xuất và cạnh tranh thị trƣờng, càng ngày các nhà kinh doanh càng đặc biệt quan tâm tới các giải pháp nhằm thúc đẩy tiêu thụ.
Làm thế nào để đẩy mạnh quá trình tiêu thụ các sản phẩm hàng hóa dịch vụ? đó là câu hỏi mà nhiều thế hệ các nhà kinh doanh phải trăn trở và tìm kiếm câu trả lời sao cho hợp lý nhất. Quá trình timg kiếm các giải pháp nhằm thúc đẩy bán ra, lôi kéo khách hàng và tăng cƣờng khả năng cạnh tranh thị trƣờng dần hình thành nên một bộ môn khoa học mới là bộ môn marketing. Bắt đầu là từ những kinh nghiệm đƣợc đúc rút từ hoạt động thực tiễn của thƣơng trƣờng, các nhà kinh doanh của Trung Quốc và Nhật Bản đã xây dựng cho mình những thủ pháp và bí quyết kinh doanh riêng có và độc đáo. Vào giữa thế kỷ 17, các thƣơng gia Nhật bản đã đƣa ra 5 nguyên tắc cần thực hành trong kinh doanh: phải có mặt hàng bền đẹp, làm vui lòng khách hàng không để họ thắc mắc; khách hàng có quyền lựa chọn khi mua, khi họ không hài lòng thì sẵn sàng đổi lại cho họ; cần ghi 14 chép cẩn thận các mặt hàng khi bán để xác định mặt hàng bán nhanh và bán chậm.
Những kinh nghiệm và nghệ thuật bán hàng này sẽ là cơ sở quan trọng để xây dựng lý thuyết marketing trong tƣơng lai sau này. Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 do sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học kỹ thuật, tình hình sản xuất kinh doanh có những biến động rất lớn. Sự phát triển của sản xuất hàng hóa, của cung cầu và tình hình cạnh tranh trên thị trƣờng làm nảy sinh nhiều vấn đề buộc các nhà kinh doanh phải tìm kiếm những phƣơng thức mới để giải quyết một cách triệt để những vấn đề của sản xuất kinh doanh. Từ đòi hỏi bức xúc của thực tiễn, một bộ môn khoa học mới, một lý luận và nghệ thuật kinh doanh thị trƣờng mới ra đời.
Lý thuyết marketing xuất hiện trƣớc hết ở Mỹ. Vào những năm đầu của thế kỷ XX, những bài giảng đầu tiên về môn học marketing đƣợc thực hiện tại các trƣờng đại học của Hoa kỳ, sau đó lan sang các trƣờng đại học khác và dần trở thành phổ biến ở hầu hết các nƣớc có nền kinh tế thị trƣờng. Lý thuyết marketing lúc đầu chỉ gắn với những vấn đề của tiêu thụ, nhƣng nó ngày trở nên hoàn chỉnh và lý thuyết đố bao quát cả những hoạt động có trƣớc tiêu thụ 15 nhƣ: Nghiên cứu thị trƣờng, khách hàng, thiết kế và sản xuất sản phẩm theo đúng yêu cầu của khách hàng, định giá và tổ chức hệ thống tiêu thụ. Trên thế giới, việc vận dụng marketing lúc đầu diễn ra phổ biến ở các công ty sản xuất hàng tiêu dùng đóng gói, các công ty sản xuất hàng tiêu dùng lâu bền và các công ty sản xuất các thiết bị công nghệ.
Tiếp theo, marketing đƣợc ứng dụng trong lĩnh vực sản xuất các vật liệu nhƣ: thép, hóa chất, giấy và những thập kỷ vừa qua, marketing đƣợc đánh giá cao bởi các ngành kinh doanh dịch vụ tiêu dùng, hàng không, ngân hàng bảo hiểm. Ngày nay, marketing đƣợc áp dụng cả trong kinh doanh quốc tế và các lĩnh vực phi thƣơng mại nhƣ: chính trị, xã hội. Một số khái niệm về marketing 2. Các khái niệm liên quan a.
Nhu cầu Nhu cầu thị trƣờng đƣợc nhiều ngƣời hiểu một cách quá đơn giản là sự đòi hỏi của con ngƣời về một vật phẩm nào đó. Nhƣng thực ra đây là một thuật ngữ mà nội dung của nó hàm chứa ba mức độ: Nhu cầu tự nhiên, mong muốn và nhu cầu có khả năng thanh toán. 16 Nhu cầu tự nhiên: Là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con ngƣời cảm nhận đƣợc. Nhu cầu tự nhiên đƣợc hình thành là do trạng thái ý thức của ngƣời ta về việc thấy thiếu một cái gì đó để phục vụ cho tiêu dùng.
Trạng thái ý thức thiếu hụt đó phát sinh có thể do sự đòi hỏi của sinh lý, của môi trƣờng giao tiếp xã hội hoặc do cá nhân con ngƣời về vốn tri thức và tự thể hiện. Sự thiếu hụt càng đƣợc cảm nhận gia tăng thì sự khát khao đƣợc thỏa mãn càng lớn và cơ hội kinh doanh càng hấp dẫn. Nhu cầu tự nhiên là vốn có, là một mặt bản thể của con ngƣời, nhà hoạt động marketing không tạo ra nó. Việc cần có cơm ăn, áo mặc, nhà ở,… gắn liền với sự tồn tại của chính bản thân con ngƣời.
Hoạt động của các nhà quản trị marketing chỉ có thể góp phần phát hiện ra trạng thái thiếu hụt, tức là những nhu cầu tự nhiên chứ hoàn toàn không sáng tạo ra nó. Nhƣng nếu các nhà quản trị marketing chỉ dừng ở việc phát hiện ra nhu cầu tự nhiên của con ngƣời, và sản xuất ra loại sản phẩm thuộc danh mục hàng hóa thỏa mãn nhu cầu đó thì học đã quá đơn giản hóa sự đòi hỏi của con ngƣời. Những nhà kinh doanh mà hiểu sự đòi hỏi của con ngƣời chỉ có nhƣ vậy trong điều kiện cạnh tranh sẽ báo trƣớc một sự thất bại. 17 Ngƣời làm marketing nhận thức về nhu cầu thị trƣờng không thể chỉ dừng ở nhu cầu tự nhiên.
Để tạo ra đƣợc sản phẩm hàng hóa thích ứng với nhu cầu thị trƣờng, khác biệt với hàng hóa cạnh tranh để tăng cƣờng khả năng cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh của công ty, ngƣời ta phải hiểu một mức độ sâu hơn của nhu cầu thị trƣờng, đó là mong muốn. Mong muốn (ƣớc muốn) là nhu cầu tự nhiên có dạng đặc thù, đòi hỏi đƣợc đáp lại bằng một hình thức đặc thù phù hợp với trình độ văn hóa và tính cách cá nhân của con ngƣời. Ví dụ, đói là một cảm giác thiếu hụt lƣơng thực, thực phẩm trong dạ dày. Sự đòi hỏi về lƣơng thực và thực phẩm để chống đói là nhu cầu tự nhiên của con ngƣời, nhƣng mổi ngƣời lại có một yêu cầu riêng theo tính cách văn hoá của họ.
Ví dụ: một ngƣời bị đói thì nhu cầu của họ là cần đƣợc ăn. Để thoả mãn nhu cầu ăn uống có thể họ dùng phở, bún, cơm… theo cách văn hoá của họ. Tuy nhiên, ngoài tính cách văn hoá, mong muốn của con ngƣời mang tính cá thể. Ví dụ: cùng một bát phở thịt bò để thể mãn nhu cầu đói thì có ngƣời thích ăn phở bò tái, có ngƣời thích ăn phở bò chín, có ngƣời thích kết hợp cả hai hoặc yêu cầu thêm một số gia vị khác.
18 Nhƣ vậy, chỉ có phát hiện ra mong muốn của từng ngƣời hoặc một tập hợp ngƣời, các nhà sản xuất mới tạo ra những đặc tính của cùng một loại sản phẩm. Nhờ đó mà tăng khả năng thích ứng và cạnh tranh trên thị trƣờng, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh. Chính vì đặc tính này của mong muốn, nên trong marketing để thoả mãn nhu cầu của con ngƣời cần có sản phẩm và dịch vụ đa dạng, thích hợp. Dựa vào nhu cầu tự nhiên của con ngƣời, nhà kinh doanh sẽ xác định đƣợc loại sản phẩm để đáp ứng nhu cầu đó, nhƣng chỉ có dựa vào mong muốn của ngƣời ta thì nhà kinh doanh mới có thể xác định đƣợc chính xác các thông số và đặc tính, từ đó quyết định sản xuất mặt hàng cụ thể mà họ cần.
Nhờ vậy, mới có thể tạo ra sự tiến bộ và khả năng cạnh tranh của nhãn hiệu sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra. Nhu cầu tự nhiên và mong muốn của con ngƣời là vô hạn, nhà kinh doanh không chỉ dừng ở việc phát hiện và sản xuất ra sản phẩm để thích ứng với chúng nhƣ là những thứ cho không, mà phải thông qua trao đổi để vừa thoả mãn lợi ích của ngƣời tiêu dùng, vừa thoả mãn mục đích của nhà kinh doanh. Vì vậy, trong khi đáp ứng nhu cầu tự nhiên và 19 mong muốn của con ngƣời, nhà kinh doanh phải tính đƣợc một nội dung khác của nhu cầu thị trƣờng – nhu cầu có khả năng thanh toán c. Cầu Cầu là nhu cầu có khả năng thanh toán, là nhu cầu tự nhiên và mong muốn phù hợp với khả năng thanh toán mua sắm của con ngƣời.
Các nhà kinh doanh có thể phát hiện ra nhu cầu tự nhiên và mong muốn đó của con ngƣời và họ có thể chế tạo ra đủ loại hàng hoá với những đặc tính cực kỳ hoàn mỹ, nhƣng họ cũng sẽ chẳng bán đƣợc bao nhiêu, nếu nhƣ chi phí sản xuất ra hàng hoá đó lại quá lớn, giá cao đến mức khách hàng không thể mua đƣợc, mặc dù họ rất thích đƣợc dùng nó. Khi đó, nhu cầu tự nhiên và mong muốn hay còn gọi là nhu cầu tiềm năng sẽ không thể biến thành nhu cầu có khả năng thanh toán đƣợc. Hành vi của người tiêu dùng Là cách thức mà ngƣời tiêu dùng sẽ thực hiện để đƣa ra các quyết định sử dụng tài sản của mình liên quan đến việc mua sắm và sử dụng hàng hóa, dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu cá nhân.Ví dụ: để mua đƣợc một chiếc tivi cho nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của mình, khách hàng trƣớc tiên sẽ phải tìm kiếm thông tin liên quan đến các nhãn hiệu tivi 20 đang đƣợc bày bán trên thị trƣờng, thông qua nhiều nguồn tham khảo khác nhau, nhƣ từ bạn bè, ngƣời thân, đồng nghiệp, từ thông tin quảng cáo trên các phƣơng tiện truyền thông, hoặc có thể đến tìm hiểu trực tiếp tại các cửa hàng trƣng bày sản phẩm. Trên cơ sở so sánh các thông số của các loại tivi khác nhau và khả năng thanh toán của mình, khách hàng sẽ quyết đinh lựa chọn mua một chiếc mà họ thấy phù hợp nhất.