Chương 1 NHUNG VAN DE CHUNG VE THONG KE HOC Thống kê lả khoa học về thu thập, phân tích, trình bảy và điển giải dữ liệu. Trong kinh tế và quản trị kinh doanh những thông tin có được từ quá trình trên giúp cho nhà quan lý và người ra quyết định có sự hiểu biết sâu sắc hơn về môi trường kinh tế và kinh doanh, từ đó đưa ra quyết định chính xác vả tốt hơn. Trong chương này sẽ đề cập đến một số vấn để chung như sự nhập môn vẻ thông kê, cụ thể: sự ra đời, phát triển và vai trò của thong kê; nội dung và các khái niệm cơ bạn thường dùng trong thông kê; các thang đo và các phương pháp thống kê 1. VAI TRÒ CỦA THÓNG KÊ HỌC Thống kê học ra đời, phát triển từ nhu cầu thực tiễn của xã hội và là một trong những môn khoa học xã hội có lịch sử lâu dài nhất.
Đó là một quá trình phát triển không ngừng từ đơn giản đến phức tạp, được đúc rút dẫn thành lý luận khoa học và ngày nay đã trở thành một môn khoa học độc lập. Trong lịch sử, những ý tưởng và các phương pháp thống kê phát triển cùng với sự phát triển nhu cầu của xã hội về thu thập và sử dụng thông tin cho các mục đích khác nhau. Ngay từ thời cô đại, con người đã biết chú ý tới việc đăng ký, ghi chép và tính toán số người trong bộ tộc, số súc vật, số người có thể huy động phục vụ các cuộc chiến tranh giữa các bộ tộc, SỐ người được tham gia ăn chia phân phối của cải thu được,. Mặc dù việc ghi chép còn rất giản đơn với phạm vi hẹp, nhưng đó chính là những cơ sở thực tiễn ban đầu của thống kê học.
Trong xã hội phong kiến, hầu hết các quốc gia ở châu Á, châu Âu đều có tổ chức việc đăng ký, kê khai về số dân, về ruộng đất, tài sản,. với phạm vi rộng hơn, có tính chất thống kê rõ hơn. Tuy nhiên, các đăng ký này còn mang tính tự phát, thiếu khoa học. Thống kê đã có một bước phát triển quan trọng, nhưng vẫn chưa thực sự hình thành một môn khoa học độc lập.
Sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đòi hỏi các nhà khoa học phải nghiên cứu lý luận cũng như phương pháp thu thập, tính toán và phân tích về mặt lượng các hiện tượng kinh tế - 17 xã hội. Năm 1660, nhà kinh tế học người Đức H.Conhring (1606-1681) đã giảng về phương pháp nghiên cứu hiện tượng xã hội dựa vào các số liệu điều tra cu thé. Nam 1682, William Petty (1623-1687), nha kinh tế học người Anh đã xuất bản cuốn “Số học chính trị”. Đây là tác phẩm có tính phân tích thống kê đầu tiên, trong đó tác giả nghiên cứu các hiện tượng xã hội bằng cách tổng hợp và so sánh các con số.
Kar Mark đã goi William Petty là người sáng lập ra môn thống kê học'. Năm 1750, giáo sư người Đức G.Achenwall (1710-1772), lần đầu tiên ding tir “Statistik” để chỉ phương pháp nghiên cứu nói trên và quan niệm đó là môn học so sánh các nước khác nhau về mọi mặt qua các số liệu thu thập được. Những thành tựu nổi bật của khoa học tự nhiên trong thế kỷ thứ ' XVIII, đặc biệt là sự ra đời của lý thuyết xác suất và thống kê toán đã có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của thống kê học. Kế từ đó, thông kê có sự phát triển rất mạnh mẽ và ngày càng hoàn thiện, gắn liền với tên tuổi của nhiều nhà toán học - thống kê học nỗi tiếng, như: M.
Kể từ khi ra đời, thống kê ngày cảng đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội. Thông qua việc phát hiện, phản ánh những quy luật về lượng của hiện tượng, các con số thống kê giúp cho việc kiểm tra, giám sát, đánh giá các chương trình, kế hoạch và định hướng sự phát triển kinh tế - xã hội trong tương lai. Ngày nay, thong kê được coi là một trong những công cụ quản lý vĩ mô quan trọng, có vai trò cung cấp các thông tin thống kê trung thực, khách quan, chính xác, đầy đủ, kịp thời phục vụ các cơ quan nhà nước trong việc đánh giá, dự báo tình hình, hoạch định chiến lược, chính sách, xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ngắn han va dai han. Dong thời, các con số thống kê cũng là những cơ sở quan trọng nhất dé đánh giá tình hình thực hiện các kế hoạch, chiến lược và các chính sách đó.
Trên giác độ quản lý ví mô, thống kê không những có vai trò đáp ứng nhu cầu thông tin thống kê của các tổ chức, cá nhân trong xã hội, mà còn phải xây dựng, cung cấp các phương pháp phân tích đánh giá về mặt lượng các hoạt động kinh tế - xã hội của các tổ chức, đơn Vi. ' Cac - Mac, Tư bản, Quyền thứ nhất, tập I, trang 368, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1962. 18 Trong môi trường kinh tế thương mại toàn cầu hiệu nay, tất cả mọi người đều có thể truy cập và tiếp cận với một khói lượng thông tin thông kê không lồ. Những quản trị viên và người ra quyết định thành công phải hiệu rõ về thông tin và biết cách khai thác, sử dụng chúng một cách hiệu quả.
Sau đây là một số ví dụ về việc ứng dụng thống kê trong một số hoạt động kinh tế và quản trị kinh doanh: - Các cơ quan kế toán sử dụng phương pháp thống kê chọn mẫu khi kiểm tra số sách kế toán của khách hàng. Giả sử, trường hợp được đưa ra là: một cơ quan kế toán muốn kiểm tra xem con số ghi trong tài khoản “phải thu của khách hàng” thuộc bảng cân đối kế toán của đối tượng đang chịu sự kiểm toán có phán ánh rõ ràng được khoản “phải thu khách hàng” thực hay không. Thông thường, để làm việc này, họ sẽ phải xem xét, kiếm tra và đánh giá một số lượng lớn những tài khoản “phải thu khách hàng” đối với từng đôi tượng khách hàng riêng lẻ. Điều này khiến cho công việc tốn nhiều thời gian và chi phí.
Vì vậy, trong thực tiễn, khi gặp phải tình huống này, nhân viên kiểm toán sẽ lựa chọn ra một tập con trong số những tài khoản loại này; tập con được gọi là một mẫu. Sau khi kiểm duyệt độ chính xác cúa mẫu, người kiểm toán viên sẽ đưa ra kết luận xem khoản mục “phải thu của khách hàng” trong bang can déi kế toán có được chấp nhận hay không. - Phân tích tài chính sử dụng một số lượng không lồ các thông tin thống kê định hướng cho môi giới đầu tư. Chăng hạn, đối với thị trường chứng khoán, những nhà phân tích phải xem xét một số lượng rất lớn các dữ liệu tài chính như tỉ lệ giáthu nhập, cô tức,.
Bằng cách so sánh những thông tin của một loại chứng khoán nhất định với chỉ số bình quân của thị trường chứng khoản, một nhà phân tích tài chính có thể đưa ra được kết luận rằng: chứng khoán này được định giá cao hay thấp. Thông tin này và những thông tin khác liên quan có thể giúp các nhà phân tích ra quyết định mua, bán hay nắm giữ cổ phiếu. - Người quản trị thương hiệu cũng có thể sử dụng các dữ liệu thô cùng với bản tóm tắt thống kê về các kế hoạch xúc tiễn bán hàng để có cái nhìn tốt hơn về mối quan hệ giữa hoạt động quảng cáo và doanh thu. Những phân tích này thường tỏ ra hữu dụng trong việc thiết kế các chiến dịch marketing cho các sản phẩm khác nhau.
19 - Ngày nay, tầm quan trọng của chất lượng sản phẩm đã khiến cho thống kê trở thành một ứng dụng quan trọng trong quản trị chất lượng sản xuất. Chăng hạn các biểu thống kê kiểm tra chất lượng cùng một số dạng biểu đồ thống kê được sử dụng đề giám sát đầu ra của quá trình sản xuất và có thể giúp quyết định việc điều chỉnh nào là cần thiết để sửa chữa một quá trình sản xuất. - Những nhà kinh tế thường xuyên đưa ra những dự đoán cho tình hình Kinh tế trong tương lai và một số mặt của nó. Họ sử dụng rất nhiều thông tin thống kê và các phương pháp dự đoán thống kê để đưa ra được những kết quả dự đoán này.
KHÁI NIỆM VỀ THÓNG KÊ HỌC VÀ ĐÓI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA THÓNG KÊ HỌC 1. Khái niệm về thống kê học Thống kê học là khoa học nghiên cứu hệ thông các phương pháp thu thập, xử lý và phân tích các con số (mặt lượng) của những hiện tượng số lớn để tìm hiểu bản chất và tính quy luật vốn có của chúng (mặt chất) trong những điễu kiện nhất định. Thống kê không phải là khoa học nghiên cứu một phương pháp nào đó mà là khoa học nghiên cứu hệ thống các phương pháp được sử dụng để thu thập, xử lý và phân tích các con số. Những phương pháp này giúp cho chúng ta có thể tìm ra những ý nghĩa thực tiễn dn đẳng sau những con số đó, làm cơ sở cho việc ra các quyết định, Các con số mà thống kê học nghiên cứu không chỉ đơn thuần là các con số số học đơn giản mà là các con số được gắn với những hiện tượng kinh tế - xã hội cụ thể và thông qua việc phân tích các con số để tìm hiểu bản chất và tính quy luật của các hiện tượng đó.
Để có thể tìm hiểu được bản chất và tính quy luật của các hiện tượng kinh tế - xã hội nếu chúng ta chỉ nghiên cứu một số ít các hiện tượng thi rất khó để chúng ta có thể hiểu ra được bản chất và tính quy luật của hiện tượng. Một hiện tượng cá biệt, trong quá trình vận động và phát triển chịu sự ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố, trong đó có cả nhân tố tất nhiên và nhân tố ngau nhiên nên dưới sự tác động của nhiều yếu tố làm cho các hiện tượng cá biệt 20 rất khác nhau. Do đó, nếu chỉ nghiên cứu trên một số ít hiện tượng thi rất khó có thể rút ra bản chất chung của hiện tượng. Vì vậy, thông kê học đòi hỏi nghiên cứu những hiện tượng số lớn.
Các hiện tượng kinh tế - xã hội luôn luôn biển động theo thời gian va không gian. Vì vậy, cùng một hiện tượng kinh tế - xã hội nhưng được đặt ở những thời gian và không gian khác nhau thì hiện tượng đó cũng có những biểu hiện khác nhau. Ví dụ, giá gạo.