TRƯỜNG TRUNG CẤP QUỐC TẾ MEKONG GIÁO TRÌNH LÝ LUẬN Y HỌC CỔ TRUYỀN Trình độ: Trung cấp Ban hành kèm theo quyết định số : …/2021/QĐ-TCQTMK ngày….năm 2021 của Trường Trung cấp Quốc tế Mekong LƯU HÀNH NỘI BỘ 1 LỜI GIỚI THIỆU Giáo trình "Lý luận cơ bản Y học cổ truyền” được biên soạn dựa trên chương trình giáo dục do Bộ Lao động- TB&XH ban hành của ngành Y sĩ Y học cổ truyền hệ trung học. Giáo trình dùng cho các đối tượng học sinh trung học y học cổ truyền, được biên soạn nhằm đáp ứng nhu cầu học tập cho học sinh trung học, đồng thời nâng cao chất lượng đào tạo cho trường. Trong mỗi bài đều có: Mục tiêu mà học sinh phải đạt sau khi học nội dung kiến thức bài học và các câu hỏi tự lượng giá sau học. Khi giảng dạy, giáo viên căn cứ vào mục tiêu chương trình của mỗi bài để lựa chọn và biên soạn bài giảng thích hợp.
Giáo trình này sẽ giúp cho học sinh tính chủ động trong học tập, đáp ứng với phương pháp dạy học tích cực ở trên lớp. Giáo trình đã được Hội đồng chuyên môn Nhà Trường thẩm định. Nhà Trường ban hành làm tài liệu dạy - học chính thức dùng đào tạo y sĩ trung học của ngành Y tế trong giai đoạn hiện nay. Trong thời gian từ 3 đến 5 năm, sách cần được chỉnh lý, bổ sung và cập nhật.
Trong quá trình soạn chắc chắn còn nhiều thiếu sót, chúng tôi mong nhận được ý kiến đóng góp của đồng nghiệp, các thầy cô giáo và học sinh để cuốn sách ngày càng hoàn thiện hơn. Tham gia biên soạn 1. Hồng Xuân Trường 2. Võ Thị Ngọc Thu 2 Bài 1 HỌC THUYẾT ÂM DƯƠNG Mục tiêu: 1.
Trình bày được các qui luật của học thuyết âm dương 2. Trình bày được cách vận dụng những kiến thức cơ bản trên vào chẩn bệnh , điều trị và dự phòng. KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA ÂM DƯƠNG: Âm dương là một khái quát về hai thuộc tính của hiện tượng họăc sự vật có sự liên quan tương hỗ trong vũ trụ. Đầu tiên hàm ý của âm dương rất thô sơ, giản dị, nó chỉ nói về ánh sáng (mặt trời) và bóng của vật thể để định ra thuộc tính, hướng về ánh sáng thuộc dương, sau lưng nó thuộc âm.
Cổ nhân dựa vào đó mà phân định sáng, tối, ấm, lạnh. Trong thực tế cuộc sống về sau này, tiền nhân gặp phải vô số những hiện tượng lưỡng cực như trời đất, trên dưới, nhật nguyệt, ngày đêm, thủy hỏa, thăng giáng, động tịnh, nội ngoại, đực cái. và đã dùng âm dương để khái quát (định nghĩa) chúng. Khái niệm âm dương khởi nguyên (bắt nguồn) từ bát quái và 64 quẻ của kinh dịch.
Dịch quái do hào âm (--) và hào dương ( ̶) hợp thành. Âm: chỉ sự vật và tính chất đối lập với dương bao gồm những thuộc tính: trầm tĩnh, bên trong, đi xuống, lạnh, tối, vật chất, ức chế, suy giảm. Dương: đối lập với âm, bao gồm những thuộc tính như hoạt động, bên ngoài, đi lên, nóng, sáng, thuộc chức năng, hưng phấn II. NỘI DUNG CƠ BẢN: 1.
Âm dương giao cảm: Thế nào là âm dương giao cảm? Là chỉ về trong quá trình vận động của hai khí âm dương có sự tương hỗ cảm ứng mà giao hợp với nhau gọi là âm dương giao cảm. 3 Âm dương giao cảm là điều kiện căn bản để vạn vật được sinh ra. Nếu không có sự vận động âm dương giao cảm sẽ không có cuộc sống và sẽ không có giới tự nhiên, do đó có thể thấy âm dương giao cảm là điều kiện cơ bản sinh sản ra tất cả. Âm dương giao cảm là một quá trình (giai đoạn) trong sự vận động của hai khí âm dương, khi đạt trạng thái tốt nhất (tối giai) trong quá trình vận động đó mới xảy ra.
Trạng thái này được thực hiện nhờ sự thăng bằng hợp đồng trong quá trình vận động của hai khí âm dương, trạng thái này được các triết gia cổ đại gọi là “Hòa”. Lý luận âm dương giao cảm cho ta thấy, hai khí âm dương là vận động vĩnh hằng và trong quá trình vận động chúng gặp nhau và đạt được trạng thái hòa hài mới phát sinh tác dụng giao cảm. Khi âm dương tương hỗ giao cảm sẽ làm cho hai loại sự vật hoặc lực lượng đối lập nhau cùng thống nhất (tập trung) trong một thể, từ đó sản sinh ra giới tự nhiên, vạn vật, nhân loại, đồng thời đặt giới tự nhiên lúc nào cũng trong tình trạng vận động biến hóa không ngừng. Âm dương đối lập chế ước: Đối lập là tương phản, ví dụ trên và dưới, trời và đất, động và tĩnh, nước và lửa.
Âm dương tương phản sẽ dẫn đến chế ước, ví dụ nóng ấm xua tan hàn lạnh, thủy có thể dập tắt hỏa, lửa có thể làm sôi nước. nóng ấm và hỏa thuộc dương, hàn lạnh và thủy thuộc âm, đây là sự chế ước tương hỗ giữa âm và dương. Kết quả của sự chế ước làm cho sự vật ở trạng thái cân bằng động. Âm dương hỗ căn hỗ dụng: Âm dương hỗ căn là chỉ hai mặt đối lập tương hỗ âm dương trong tất cả mọi sự vật, hiện tượng đều phải nương tựa vào nhau để cùng tồn tại, nghĩa là bất cứ hoặc âm hoặc dương đều không thể thoát ly nhau để tồn tại độc lập.
Mỗi một mặt (âm hoặc dương) đều phải lấy sự tồn tại (tương đối) của mặt kia làm điều kiện và tiền đề để tồn tại. Ví dụ phía trên là dương, dưới là âm, nếu không có phía trên thì làm sao phân định được phía dưới, và ngược lại. Đó là âm dựa vào dương và dương dựa vào âm để tốn tại. Trung y gọi quan hệ tương hỗ nương tựa này là hỗ căn “Cô âm bất sinh, độc dương bất trưởng” Hỗ dụng là chỉ âm dương hai mặt không ngừng bổ sung, thúc đẩy, giúp đối phương cùng phát triển.
Âm dương tiêu trưởng - bình hành: Tiêu tức là giảm thiểu, tiêu hao; Trưởng tức là gia tăng. Âm dương tiêu trưởng là chỉ rằng trong một sự vật đều hàm chứa lượng âm và dương và tỷ lệ của chúng không phải là bất biến mà sẽ không ngừng tiêu trưởng biến hóa. Bình hành là cân bằng động. Âm dương tương hỗ chuyển hóa: 4 Âm dương chuyển hóa là chỉ thuộc tính của một sự vật trong một điều kiện nhất định có thể chuyển hóa sang hướng đối nghịch, tức là sự vật thuộc dương sẽ chuyển hóa thành thuộc âm và ngược lại.
Âm dương chuyển hóa cũng là một hình thức cơ bản của sự vận động âm dương. Sự vận động tiêu trưởng của hai mặt âm dương phát triển tới một giai đoạn nhất định thì tỷ lệ giữa âm và dương trong nội bộ sự vật sẽ biến đổi, tức là thuộc tính của sự vật phát sinh sự chuyển hóa, do đó có thể nói chuyển hóa là kết quả của tiêu trưởng. Sự chuyển hóa tương hỗ (qua lại) của âm dương sẽ sản sinh khi sự vật phát triển biến hóa tới giai đoạn “Vật cực” (vật cực tất phản), vì vậy trong quá trình phát triển của sự vật nếu nói âm dương tiêu trưởng là một quá trình lượng biến thì âm dương chuyển hóa sẽ là chất biến trên cơ sở lượng biến đó. Sự tương hỗ chuyển hóa của âm dương biểu hiện dưới hình thức từ từ (tiệm tiến) nhưng cũng có thể là hình thức đột biến.
Ví dụ bốn mùa trong năm hàn thử giao thoa, chuyển hóa ngày đêm. đều thuộc hình thức từ từ. Mùa hè nóng nực lại có mưa đá hoặc trong bệnh cấp tính đang sốt cao đột ngột hạ sốt tay chân lạnh. là hình thức đột biến.
Tóm lại: âm dương giao cảm, đối lập chế ước, hỗ căn hỗ dụng, tiêu trưởng bình hành và tương hỗ chuyển hóa, từ những góc độ khác nhau mà xem xét thì sự liên hệ tương hỗ giữa âm dương và quy luật vận động của nó có thể thấy âm và dương không thể cô lập mà giữa nó phải có sự liên hệ qua lại. Âm dương vận động là vĩnh hằng nhưng bình hành chỉ là tương đối, nhưng dẫu sao sự bình hành tương đối đó vô cùng quan trọng đối với giới tự nhiên cũng như đối với nhân loại. Nếu không có sự bình hành tương đối đó thì mâu thuẫn chủ yếu nằm trong sự vận động không ngừng và hỗ tương chuyển hóa và như vậy thế giới này sẽ vạn biến trong nháy mắt sẽ không có hình thái vật chất tương đối ổn định và sự sống tất nhiên sẽ không tồn tại. ỨNG DỤNG HỌC THUYẾT ÂM DƯƠNG TRONG Y HỌC: Học thuyết này quán xuyến (xuyên suốt) mọi lĩnh vực ngành y, dùng để giải thích tổ chức kết cấu, chức năng sinh lý, bệnh lý biến hóa và chỉ đạo dưỡng sinh của con người.
Thuyết minh (giải thích) về kết cấu cơ thể: Học thuyết cho rằng cơ thể là do âm dương kết hợp mà thành một chỉnh thể hữu cơ mà các kết cấu tổ chức lại đều có thể dựa vào vị trí đặc điểm chức năng của nó mà mà phân định thuộc tính âm dương. Âm Dương Ngực, Bụng Lưng 5 tạng 6 Phủ 5 Kinh âm Kinh dương Tinh khí …. Giải thích về chức năng sinh lý: Khi nói về chức năng sinh lý của cơ thể, bất luận là chỉnh thể hoặc bộ phận đều có thể dùng âm dương để khái quát về chúng. Hoạt động sống bình thường là kết quả của sự hiệp đồng duy trì thăng bằng âm dương.
Ví dụ: Thăng, giáng, xuất, nhập là hình thức vận động cơ bản của khí cơ, dương chủ thăng chủ xuất, âm chủ giáng chủ nhập, chức năng sinh lý dều phải thông qua thăng giáng xuất nhập của khí mới thực hiện được. Thuyết minh những bệnh lý biến hóa của 4. Thắng” là chỉ về tà khí thịnh, âm dương cơ thể: a/ Âm dương thiên thắng (thịnh). “thiên thắng tức là âm tà hoặc dương tà thiên thịnh (thiên ở đây là thiên lệch về một phía), là trạng thái bệnh lý thuộc về hoặc âm hoặc dương cao hơn mức bình thường.
có thể nói “Âm thắng tắc hàn”: xuất hiện tay chân lạnh, co ro, mạch trì hoặc vi tế. b/ Âm dương thiên hư: Tức là âm hư hoặc dương hư do âm hoặc dương ít, thấp hơn mức bình thương. Tố vấn chương Điều kinh luận có nói “Dương hư tắc ngoại hàn, âm hư tắc nội nhiệt”. Âm dương thiên suy biểu hiện bệnh chứng chủ yếu là hư chứng, âm hư biểu hiện hư nhiệt chứng, dương hư biểu hiện hư hàn chứng.
Dùng để chẩn đoán: a/ Phân tích thuộc tính âm dương sắc trạch, thanh tức (âm thanh hơi thở) triệu chứng, mạch tượng và vị trí bệnh. Phân biệt âm dương của sắc trạch thì vàng, đỏ (xích) thuộc dương; xanh, trắng, đen thuộc âm.