Chương 1: Những vấn đề lý luận vẻ Luật Thương mại; Chương 2: Pháp luật về doanh nghiệp tư nhân và hộ kinh doanh; Chương 3: Pháp luật về công ty; Chương 4: Pháp luật về doanh nghiệp nhà nước; Chương 5: Pháp luật vẻ hợp tác xã). Với thực tiên nghiên cứu lý luận và thực hành luật pháp trong bối cảnh hội nhập kinh tế và tự do hóa thương mại toàn cầu, việc xây dựng một giáo trình Luật Thương mại hoàn chính theo cách hiểu truyền thống là hết sức khó khăn và không tránh khỏi những thiếu sót. Trên tinh thần đó, chúng tôi rất mong đợi và chân thành cảm ơn những ý kiến đóng góp quý báu của sinh viên, đồng nghiệp và bạn đọc. Mọi góp ý xin gửi về Công ty CP Sách Đại học - Dạy nghề, 25 Hàn Thuyên - Hà Nội.
Xin tran trọng cam ơn! TẬP THỂ TÁC GIẢ ChươngÏ NhHữxG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LUẬT THƯƠNG MẠI !— KHÁI NIỆM LUẬT THƯƠNG MẠI Phân chia các lĩnh vực pháp luật cũng như phân loại pháp luật là một vấn dé phức tạp và luôn tiém ẩn khả năng tranh luận. Lý luận và thực tiền cho thăy, với sự khác nhau về tính chất, nội dụng và thành phân chủ thể, các nhóm quan hệ xã hội khác nhau được pháp luật điều chính theo những phương pháp và nguyên tac có sự khác nhau nhất định. Điều này là cơ sở chủ vếu để phân chia hệ thống pháp luật thành những bộ phận cấu thành, theo nhiều người được gọi là “ngành luật”, trong đó có Luật Thương mại. Ly thuyết về Luật Thương mại ở Việt Nam đã trải qua những bước phát triển thăng trầm cùng với quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế theo những cơ chế quản lý kinh tế khác nhau.
Thực tiễn đã biết đến nhiều khát niệm để chỉ lĩnh vực pháp luật có chức năng chủ yếu là điều chỉnh hoạt động của các tö chức, cá nhân nhằm mục đích lợi nhuận, như: Luật Kinh tế, Luật Kinh doanh, Luật Thương mại,.`, tuy rằng nội dung cu thể của chúng được xác định trong mỗi giai đoạn phát triển kinh tế có những điểm khác nhau nhất định. Thực tiền nghiên cứu pháp lý đã tồn tại quan điểm đa chiều về pháp Luật Thương mại, tuy vậy, Luật Thương mại thường được xem xét trong mối liên hệ với Luật Dân sự theo nguyên lý của mối quan hệ giữa pháp luật chuyên ngành và pháp luật chung. Luật Dân sự, theo cách hiểu truyền thống, là lĩnh vực pháp luật điều chỉnh các giao dịch nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất hoặc tỉnh thần của các cá nhân, tổ chức (giao dịch dân su). Nội dung của L.uật Dân sự quy định các vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích của các chủ thể f Xem thêm Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo Irình Luật Thương một, Nxb.
Công an nhân dan, Ha Noi, 2006. pháp Luật Dan sự (theo nghĩa rộng là pháp luật tư) *. Luat Dan sự thuộc phạm trù pháp luật chung (Lex Generalis), duoc áp dụng trong lĩnh vực dan sự, trong đó có hoạt động kinh doanh. thương mại `.
Theo cách tiếp cận đó, Luật Thương mại thuộc phạm trù pháp luật chuyên ngành (Lex Speclalis), được áp dung để điều chính các giao dịch thương mại trước các quy định của Luật Dân sự. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý, nếu quan niệm rằng Luật Thương mại chỉ là luật tư đơn thuần như Luật Dân sự, thì sẽ không thể phân biệt được Luật Thương mại với Luật Dân sự và đặc biệt không thấy được vai trò của Nhà nước trong đời sông thương mại, trong quản lý kinh tế. Luật Thương mại ra đời do yêu cầu điều chính pháp luật đối với các giao dịch thương mại. Hoạt động thương mại tồn tại mang tính nphề nghiệp là cơ sở kinh tế— xã hội quyết định sự xuất hiện của Luật Thương mại với tính chất là một lĩnh vực pháp luật độc lập tương đối với các lĩnh vực pháp luật khác.
Giao dịch thương mại. xét về nội hàm, có bản chất của giao dịch dân sự nói chung. song có những đặc điểm riêng (vẻ chủ thế, nội dung, hình thức.); vì vậy, việc điều chính chúng đơn thuần bằng những nguyên tắc và phương pháp của dân luật truyền thống ngày càng trở nên không phù hợp và kém hiệu qua. Mat khác, giao dịch thương mại có ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của kinh tế xã hội, mà ở đó nhu cầu can thiệp của quyền lực công được đặt ra Ở mức độ sâu sắc hơn so với sự can thiệp của công quyền vào các giao dịch dân sự.
Bởi vậy, pháp luật điều chỉnh các giao dịch thương mại (Luật Thương mại) cân được xây dựng với những nguyên tắc và phương pháp nêng. Nội dung của Luật Thương mại bị chị phối bởi những yêu cầu của quá trình tổ chức thực hiện hoạt động thương mại của các thương nhân và hoạt động quản lý, điều tiết kinh tế của Nhà nước. Từ quan điểm của lý luận pháp luật truyền thống ở Việt Nam, có thể định nghĩa Lái Thương mại là hệ thống các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, điêu chính các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức và thực hiện hoạt động thương mai. Luật Thương mại có vị trí là một bộ phận câu thành của pháp luật kinh tế; ˆ Xem thêm Truong Dai hoc Ludt Ha N61, Gido wink Ludt Dan su Vier Nam, Nxb.
Cong an nhân dan, {la Néi, 2006. “ Pha hop voi quan diém này, Bộ luật Dân sự nấm 2005 cua Vier Nam dd quy dink pham diéu chinh của bộ luật này là các nhóm quan hệ dân sự về nhân thân. tài sân, hôn nhân và gia đình, khuhù doanh, thương mại, lao đóng (Điều Í, Bộ luật Dán xi năm 2005) có mối liên hệ mật thiết, song không đồng nhất với Luật Dân sự. Ở mức độ lý thuyết chung, có thể thấy rằng, trên cơ sở tiếp tục phát triển những nguyên tắc và phương pháp điều chỉnh của Luật Dân sự, Luật Thương mại thể hiện nhiều nội dung khác biệt với Luật Dân sự, nhằm điều chỉnh hiệu quả các giao dịch thương mại.
Tính đặc thù của Luật Thương mại thể hiện ở các khía cạnh cơ bản sau: - Đối tượng điều chính chủ yếu của Luật Thương mại là các giao dịch thương mại (giao dịch của các cá nhân, tổ chức nhằm mục tiêu lợi nhuận); — Chủ thể chủ yếu của Luật Thương mại là các thương nhân - những người hành nghề thương mại: ~ Phương pháp điều chỉnh của Luật Thương mại luôn thể hiện nhu cầu can thiệp. điều tiết của Nhà nước ở các mức độ khác nhau đối với hoạt động thương mại *. II — HANH V1 THUONG MAI VA THUONG NHÂN 1. Hành vi thương mai da) Khái niệm hành vì thương mại Hoạt động thương mại được biểu hiện trong đời sống thông qua việc các cá nhân, tổ thức thực hiện một hoặc tập hợp các hành vi thương mại.
Theo cách hiểu truyền thống, hành vi thương mại là hành ví mua bán nhằm mục đích lợi nhuận; hành vi thương mại là cầu nối giữa sản xuất với tiêu dùng. ` ! Phả hợp với ban chất dân sự của hoạt động thương mại, Luật Thương mạt điều chỉnh các quan hệ thương mại chủ yếu bằng phương pháp luật tr (phương pháp đán sự). Theo phương pháp này. các chủ thể của Luật Thương mái có quyền tự do ý chí để thiết láp giao dịch trên cơ sơ bình đẳng trước pháp luật về quyền và nghĩa vụ.
Bên cạnh đó, trong nên kình tế thi trường, kể cả nên kinh tế theo cơ chế thị nường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Nhà nước cần thiết phái có những điều tiết, định hướng và khuyến khích phát triển kinh tế: Vì vậy, những quan hệ điển ra trong lĩnh vực thương mai không chỉ đơn thuần được điều chính bằng phương pháp dân sự. Đơi với những quan hệ xã hội phát xinh rừ hoạt động quản lý nhà nước về thương mại, ở các nức độ khác nhau. phương pháp hành chính (phương pháp của luật công) vẫn có thế và cần thiết được sử dụng.
Khi điều chỉnh các lĩnh vực của doi song thương mạt bằng phương pháp hành Chính, Luật Thương mại dược coi là một Độ phan cua hệ tháng pháp luật công. ` Theo Luất Thương núi Viết Nam năm 1997, khát móm thường mại được hiểu theo nghĩa này. Mác dù Luất Thương mại năm 1997 không dưa ra dink nghĩa về thương mặt, nhĩng qua cách hiểu về hành vì thương mạt và hoạt động thương mại tạt Điều 5, Điều 45 của luật này cho thấy, thục chất Luật Thương mạt năn: 907 chỉ quy định chủ yếu về thương mai hàng hóa. Phạm vị điểu chính của Luật Thương mại được giới hạn ở các giao dịch mua bán Tuy nhiên.
cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường, khái niệm về hành vi thương mại đã được mở rộng đến cả lĩnh vực sản xuất, phân phối, dịch vụ và các lĩnh vực khác, với mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Vì vậy, việc xác định ranh giới giữa hành vi thương mại theo cách hiểu truyền thống và các hành vi nhằm mục đích sinh lợi khác ngày càng khó khăn và ít có ý nghĩa thực tiễn. Có lẽ xuất phát từ quan điểm đó mà Luật Thương mại năm 2005 của Việt Nam đã định nghĩa hoạt động thương mại thuộc phạm ví điều chính của luật này là mọi hoạt động nhằm mục đích sinh lợi. Theo đó, hoạt động thương mại được hiểu là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, dầu tư, xúc tiến thương mại và các hoại động nhằm mục đích sinh lợi khác °.
Định nghĩa hoạt động thương mại trong Luật Thương mại năm 2005 phù hợp với cách hiểu phổ biến trên thế giới hiện nay về hoạt động thương mại. Về bản chất, hành vi thương mại là một loạt (một dạng biểu hiện) của hành vi dân sự. Mối quan hệ giữa hành vị dan sự và hành vị thương mại cần được xem xét theo nguyên lý của mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng: trong đó. hành vị đân sự là cái chung, hành vị thương mại là cái riêng.
Hành vi thương mại có những đạc điểm cơ bản sau: Thư nhất, hành vì thương mại có mục đích thu lợi nhuận. Khí xác định mục đích lợi nhuận trong hoạt động của thương nhân, cần hiểu là, “ý định” thu lợi của chủ thể mới là tiêu chí quyết định, còn việc đạt được lợi nhuận hay không, cũng như việc sử dụng lợi nhuận thu được cho mục đích gì, không phải là dấu hiệu quyết định. Lợi nhuận hay lợi ích kinh tế của một chủ thế có thể đánh giá theo quan điểm về lợi nhuận của những thành viên (chủ sở hữu) của thương nhân.