Chương 1 TỔNG QUAN VỀ NGHỀ LUẬT SƯ 1. Khái niệm và đặc điểm về nghề luật sư 1. Khái niệm về nghề luật sư Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động trong đó con người vận dụng các tri thức, kỹ năng qua đào tạo để làm ra những sản phẩm, hàng hóa, cung cấp dịch vụ có tính vật chất hay tinh thần phục vụ nhu cầu của xã hội. Nghề phát triển theo sự phát triển của xã hội loài người, xã hội càng phát triển thì nghề càng phát triển theo quy luật cùng với sự ra đời của các tiến bộ khoa học, công nghệ và ngày càng được chuyên môn hóa theo phân công lao động xã hội.
Theo thống kê của các nhà nghiên cứu về nghề nghiệp, trên thế giới hiện nay có trên dưới 800.000 ngành nghề với hàng chục nghìn chuyên môn. Ở Liên Xô trước đây, người ta đã thống kê được trên 15.000 chuyên môn, còn ở nước Mỹ, hiện nay con số đó lên tới trên 40. Nghề luật là một nghề trong xã hội pháp quyền, gắn liền với nhà nước và pháp luật, trong đó người hành nghề luật thực hiện các chuyên môn khác nhau gắn với pháp luật. Nghề luật sư là một nghề luật cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng, luật sư cung cấp dịch vụ pháp lý như tư vấn pháp luật, soạn thảo văn bản, tổ chức đàm phán, thương lượng về các vấn đề pháp luật và có thể đại diện cho thân chủ hoặc bào chữa, bảo vệ quyền lợi của khách hàng trước Tòa án trong quá trình tiến hành tố tụng, luật sư được nhận thù lao, chi phí do khách hàng chi trả để sinh sống.
Trên thế giới, nghề luật sư được nhiều nước quan niệm là nghề tự do, một số nước khác lại quan niệm là nghề đặc biệt trong xã hội. Không ai biết được nghề luật sư xuất hiện từ bao giờ, chỉ biết rằng nghề này xuất hiện từ thời xa xưa. Theo nhận xét của một số nhà nghiên cứu, thì quyền bào chữa xuất hiện sớm nhất ở châu Âu cùng với sự xuất hiện của Toà án và người biện hộ xuất hiện cùng thẩm phán. Vào thế kỷ V trước Công nguyên, trong Nhà nước Hy Lạp cổ đại, một Hội đồng xét xử (có tính chất như Toà án ngày nay) đã được hình thành và việc xét xử có sự tham gia của mọi người dân.
Nguyên cáo hoặc bị cáo có thể trình bày ý kiến, lý lẽ của mình trước Hội đồng hoặc nhờ người khác có tài hùng biện viết 1 Bộ Lao động Hoa Kỳ, http://www.gov/oes/ 9 hoặc trình bày hộ ý kiến, lý lẽ của mình trước Hội đồng. Với hình thức tố tụng như vậy đã tạo điều kiện và thúc đẩy việc hình thành nghề luật sư. Ở La Mã cổ đại thế kỷ thứ IV trước Công nguyên, chế độ bào chữa đã bước đầu phát triển. Người đi kiện đã biết nhờ người thân mà mình tín nhiệm biện hộ cho mình.
Trong xã hội đã hình thành một nhóm người chuyên sâu về pháp luật, am hiểu pháp luật và có thể giải thích pháp luật, vận dụng pháp luật vào các công việc cụ thể. Với chức năng đó, hoạt động của họ rất giống với hoạt động của luật sư. Từ thế kỷ thứ I trước Công nguyên đến thế kỷ thứ II sau Công nguyên, dưới Đế chế La Mã thì pháp luật đã phát triển. Cùng với việc phát triển của pháp luật, trong xã hội đã xuất hiện một đội ngũ những chuyên gia chuyên nghiệp và việc diễn giải pháp luật của các chuyên gia đã trở thành thường xuyên, được xã hội xem xét như một hoạt động nghề nghiệp và được gọi là “Advocatus” (người biện hộ).
Những người này sử dụng tài hùng biện và sự hiểu biết của mình về cổ luật để bênh vực cho những người yếu thế trong xã hội, “thấp cổ bé họng” hoặc phụ nữ bị ngược đãi trước các thế lực lúc bấy giờ. Hoạt động của người biện hộ đã được xã hội chấp nhận và uy tín của họ ngày càng được nâng lên. Tuy nhiên, người biện hộ chưa có địa vị nhất định trong xã hội và không được phép nhận tiền thù lao, tiền công của những người mà họ giúp đỡ. Người biện hộ có thể nhận các khoản thưởng của đương sự, nhưng tuyệt đối không được đề nghị đương sự trả thù lao.
Vì vậy, nghề luật sư được xem là một nghề vinh quang và cao quý trong xã hội, người biện hộ được xã hội tôn vinh như là người hiệp sĩ. Sau khi Nhà nước La Mã tan rã, châu Âu chuyển sang giai đoạn các triều đại phong kiến của thời kỳ Trung cổ phương Tây. Tổ chức toà án và chế độ luật sư ở các nước được xây dựng lại rất phức tạp dưới nhiều hình thức khác nhau, song, vẫn nhằm mục đích phục vụ tôn giáo và chế độ phong kiến. Nhân dân thời bấy giờ không coi trọng nghề “thầy cãi”.
Một số người hành nghề luật sư bị hào quang của kim tiền và áp lực của chế độ phong kiến làm mờ ám lương tâm, xuyên tạc sự thật và bôi nhọ công lý. Dưới chế độ tư bản, nghề luật sư được tổ chức chặt chẽ với những điều kiện khắt khe hơn nhằm dành quyền lợi riêng cho một số ít người xuất thân từ giai cấp bóc lột. Từ nhiệt tình của những người đầu tiên tự nguyện làm công tác bào chữa vì sự thật, công lý, nghề luật sư dưới chế độ tư bản đã từng bước trở thành nghề kiếm tiền, phục vụ cho khách hàng. Ở các nước châu Âu, cũng dần dần hình thành một hệ thống xét xử và hoạt động luật sư cũng đã dần xuất hiện.
Ví dụ như ở Anh, hoạt động sơ khai của luật sư cũng xuất hiện từ những năm 1250, còn ở Pháp hoạt động luật sư được xuất hiện từ năm 1200 v. Các hoạt động của nghề luật sư ở các nước châu Âu ngày càng phát triển và đã lan rộng sang cả các nước châu Mỹ và châu Á. Đến nay, hoạt động này đã trở thành một nghề rất quan trọng và không thể thiếu được trong xã hội hiện đại. 10 Sau Cách mạng tháng Mười Nga, quyền bào chữa của bị cáo mới thật sự được bảo đảm.
Pháp lệnh ngày 30/4/1918 của nước Nga Xô Viết quy định một nguyên tắc cơ bản trong tố tụng: Vụ án có cáo tố thì phải có biện hộ. Về sau nguyên tắc này được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự của nhiều nước xã hội chủ nghĩa. Nghề luật sư ngày càng phát triển và trở thành nghề có phương thức hành nghề tự do được các văn bản pháp luật của nhà nước quy định. Lịch sử nghề luật sư ở mỗi nước gắn liền với chế độ chính trị ở nước đó và phục vụ quyền lợi của giai cấp thống trị ở nước đó.
Hiện nay, đa số các nước trên thế giới chỉ có một loại luật sư được làm cả việc tư vấn và tranh tụng như Pháp, Thái Lan, Singapore, Trung Quốc, Hàn Quốc… Tuy nhiên, ở một số nước như Anh, bang New South Wales - Australia… vẫn tồn tại 2 loại luật sư là luật sư tư vấn (solicitor) và luật sư biện hộ (barrister). Luật sư tư vấn là người có kiến thức chung về mọi lĩnh vực của luật. Luật sư tư vấn có quan hệ trực tiếp với khách hàng, thực hiện nhiệm vụ theo yêu cầu của khách hàng. Luật sư tư vấn cần xác định xem khách hàng có vấn đề gì liên quan đến pháp luật và thuộc lĩnh vực nào, từ đó tư vấn cho khách hàng có nên kiện ra Toà án không và nếu có thì kiện tới Toà án nào, có cần luật sư biện hộ không? Trong một số vụ án, luật sư tư vấn hỏi nhân chứng, thu thập chứng cứ, thực hiện các cuộc đàm phán, chuẩn bị hồ sơ, tài liệu cho luật sư biện hộ để trình bày tại phiên toà chính thức.
Trong quá trình xét xử, luật sư tư vấn giúp luật sư biện hộ tìm kiếm các tình tiết, chứng cứ, sắp xếp nhân chứng và là đầu mối liên hệ giữa khách hàng và luật sư biện hộ. Luật sư biện hộ là người biện hộ tại Toà án theo giới thiệu của luật sư tư vấn. Một đặc điểm quan trọng của luật sư biện hộ là không được liên hệ trực tiếp với khách hàng. Họ có quyền biện hộ ở mọi cấp Toà án.
Họ có kỹ năng chuyên môn trong việc nghiên cứu hồ sơ, kiểm tra và đối chiếu chứng cứ, sắp xếp và trình bày sự kiện hoặc tranh luận những vấn đề về luật, lọc ra những điều quan trọng từ hàng loạt các vấn đề cụ thể. Ở mỗi cấp Toà án, mỗi loại việc đòi hỏi các kỹ năng và chiến lược khác nhau và chỉ luật sư biện hộ mới có khả năng làm được điều đó. Đồng thời, luật sư biện hộ còn có chức năng tư vấn (hoặc viết hoặc nói) cho khách hàng về việc chuẩn bị vụ kiện tại Toà án và đưa ra những nhận xét về các vấn đề pháp lý, thăm dò khả năng thành công của một bên, chuẩn bị hành động cho tất cả các bước của vụ kiện. Sự phân chia chức năng giữa luật sư tư vấn và luật sư biện hộ đã tạo điều kiện cho luật sư tư vấn thực hiện nhiều công việc theo yêu cầu của khách hàng mà phần lớn những công việc này không liên quan đến công việc tại Toà án.
Đồng thời, nó cũng giúp cho luật sư biện hộ có vị trí vững chắc, ổn định tại Toà án, không bị xao nhãng vì phải giải quyết những sự 11 vụ thông thường của khách hàng. Sự phân chia này xuất phát từ phạm vi công việc nhưng chủ yếu là do thông lệ, phong tục, tập quán. Hiện nay, nhiều nước trên thế giới chưa có sự phân chia luật sư làm hai loại. Một số nước đã có sự sáp nhập hai loại luật sư làm một hoặc có sự phân chia không rõ ràng, ví dụ: cho phép một người có thể đồng thời được công nhận là luật sư tư vấn và luật sư biện hộ; hoặc là cho phép các luật sư tư vấn được tham gia biện hộ trước các Toà án với phạm vi ngày càng rộng hơn; hoặc là quy định cụ thể cho các trường hợp luật sư biện hộ muốn trở thành luật sư tư vấn hoặc ngược lại.
Hoạt động luật sư trong cơ chế thị trường được coi là một loại hình dịch vụ nghề nghiệp, được điều chỉnh bằng các đạo luật về hành nghề luật sư và các luật lệ về kinh doanh.