Chương 1: Những vấn đề chung về vai trò của luật sư trong bảo vệ quyền con người. Chương 2: Thực trạng hoạt động của luật sư trong bảo vệ quyền con người Việt Nam. Chương 3: Dự báo và một số giải pháp nâng cao vai trò của luật sư trong bảo vệ quyền con người. 7 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN DỀ CHUNG VỀ VAI TRÒ CỦA LUẬT SƢ TRONG 1.
Một số vấn đề lý luận về luật sƣ và nghề luật sƣ 1. Khái niệm luật sư Quyền bào chữa và quyền được bảo vệ lợi ích hợp pháp là một trong những quyền cơ bản của công dân trong nhà nước pháp quyền; công dân có thể tự bào chữa, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc nhờ người khác bào chữa, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước Toà án. Xuất phát từ nhu cầu đó, luật sư và nghề luật sư đã hình thành và phát triển cách đây hàng trăm năm ở nhiều nước trên thế giới. , luật sư là một chức danh tư pháp độc lập.
T những người có đủ điều kiện hành nghề chuyên nghiệp theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện việc tư vấn pháp luật, đại diện theo ủy quyền, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cá nhân, tổ chức và nhà nước trước tòa án và thực hiện các dịch vụ pháp lý khác. Điều 2 Luật Luật sư năm 2006 ghi nhận, “Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật này, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức”. Tiêu chuẩn luật sư được quy định tại Điều 10 Luật Luật sư năm 2006; sửa đổi, bổ sung năm 2012 như sau: “Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng Cử nhân Luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư, có sức khoẻ bảo đảm hành nghề luật sư thì có thể trở thành Luật sư”. Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại Điều 10 của Luật này muốn được hành nghề luật sư phải có Chứng chỉ hành nghề luật sư và gia nhập một Đoàn luật sư.
8 một số quan niệm trước đây về khái niệm luật sư như sau: mà chỉ quy định muốn làm luật sư thì phải đủ điều kiện và gia nhập Đoàn luật sư. Việc gia nhập Đoàn luật sư phải được Hội nghị toàn thể Đoàn luật sư thông qua theo đề nghị của Ban chủ nhiệm. Người mới gia nhập Đoàn luật sư phải qua một thời gian tập sự từ 6 tháng đến 2 năm và một kỳ kiểm tra do Đoàn luật sư tổ chức, mới được công nhận là luật sư. Luật sư tập sự được bào chữa và làm các việc giúp đỡ pháp lý khác như luật sư [7, Điều 6].
Người được công nhận là luật sư được cấp thẻ luật sư. Thẻ luật sư do Ban chủ nhiệm cấp cho các luật sư. Chỉ được sử dụng thẻ luật sư trong khi thực hiện các nhiệm vụ do Ban chủ nhiệm phân công và trong sinh hoạt của Đoàn, không được sử dụng vào việc khác. Thẻ luật sư do Bộ Tư pháp thống nhất phát hành và quản lý việc sử dụng.
Như vậy, theo quy định của Pháp lệnh Tổ chức luật sư thì một người muốn được công nhận là luật sư phải gia nhập Đoàn luật sư. Thẩm quyền công nhận luật sư hay thẩm quyền chấp nhận gia nhập Đoàn luật sư thuộc Hội nghị toàn thể Đoàn luật sư. Thẻ luật sư là giấy tờ chứng minh một người là luật sư và được sử dụng trong hành nghề và trong sinh hoạt của Đoàn luật sư. Đến Pháp lệnh Luật sư năm 2001, khái niệm luật sư mới được đặt ra.
Vì tên gọi là Pháp lệnh Luật sư, cho nên khái niệm luật sư là vấn đề được thảo luận rất sôi nổi trong quá trình soạn thảo Pháp lệnh. Các ý kiến đều tập trung xung quanh nội hàm của khái niệm, cơ quan soạn thảo cũng đưa ra nhiều phương án xử lý, tuy nhiên vẫn còn có ý kiến khác nhau. Việc đưa ra khái 9 niệm luật sư trong Pháp lệnh là có phần khó khăn, hơn nữa, có tính học thuật, dễ gây tranh luận và nhiều ý kiến cũng thừa nhận điều đó. Tham khảo kinh nghiệm nước ngoài cho thấy, việc đưa ra khái niệm hoặc định nghĩa luật sư chỉ mang tính quy ước, quy định để hiểu một cách thống nhất.
Vì vậy, quy định về luật sư trong Pháp lệnh Luật sư chủ yếu để đưa ra cách hiểu thuật ngữ chứ không hàm ý đưa ra khái niệm. Pháp lệnh Luật sư năm 2001 quy định luật sư là người có đủ điều kiện hành nghề luật sư [26, Điều 1]. Người muốn hành nghề luật sư phải gia nhập Đoàn luật sư và có Chứng chỉ hành nghề luật sư mà không quy định về tiêu chuẩn luật sư, thủ tục và thẩm quyền công nhận luật sư [26, Điều 7]. Người được gia nhập Đoàn luật sư, để trở thành luật sư phải qua tập s và kỳ kiểm tra hết tập sự và nếu đạt yêu cầu thì được Ban chủ nhiệm Đoàn luật sư đề nghị Bộ Tư pháp cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư [26, Điều 13].
Kỳ kiểm tra hết tập sự do Bộ Tư pháp tổ chức. Khoản 4 Điều 13 Pháp lệnh Luật sư năm 2001 quy định: “Người được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư được hành nghề với đầy đủ các quyền nghĩa vụ của luật sư”, trong đó có quyền hành nghề luật sư, bởi vì theo quy định Điều 15 “Quyền và nghĩa vụ của luật sư” của Pháp lệnh Luật sư thì luật sư có quyền: a) Lựa chọn lĩnh vực hành nghề theo quy định của Pháp lệnh này; b) Thành lập Văn phòng luật sư hoặc Công ty hợp danh; c)Tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật tố tụng và Pháp lệnh này; d) Thực hiện các quyền khác theo quy định của pháp luật. Theo quy định của Điều 20 Pháp lệnh Luật sư, trong hồ sơ đăng ký thành lập Văn phòng luật sư hoặc Công ty luật hợp danh chỉ cần bản sao Chứng chỉ hành nghề luật sư mà không yêu cầu Thẻ luật sư. Từ đó có thể hiểu, một người trở thành luật sư kể từ thời điểm được Bộ Tư pháp cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư hay nói một cách khác, luật sư là người có Chứng chỉ hành nghề do Bộ Tư pháp cấp.
10 Điều 34 của Pháp lệnh luật sư năm 2001 quy định “Luật sư đã tham gia Đoàn luật sư là thành viên của Đoàn luật sư. Quyền, nghĩa vụ của thành viên Đoàn luật sư trong quan hệ nội bộ Đoàn luật sư do Điều lệ Đoàn luật sư quy định”. Như vậy, quyền và nghĩa vụ của luật sư trong hành nghề được quy định tại Điều 15 của Pháp lệnh Luật sư, còn quyền và nghĩa vụ của luật sư với tư cách thành viên Đoàn luật sư do Điều lệ Đoàn luật sư quy định. Theo quy định Điều 29 của Nghị định số 94/2001/NĐ-CP ngày 12/12/2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Luật sư thì thành viên của các Đoàn luật sư là các luật sư và được Ban chủ nhiệm cấp Thẻ luật sư theo mẫu thống nhất do Bộ Tư pháp phát hành.
Thẻ luật sư là giấy chứng nhận tư cách thành viên Đoàn luật sư của người được cấp thẻ. Thủ tục cấp và sử dụng Thẻ luật sư do Điều lệ Đoàn luật sư quy định (Thông tư số 02/2002 TT/BTP ngày 22/1/2002 của Bộ Tư pháp hướng dẫn một số quy định của Nghị định 94/2001/NĐ-CP). Như vậy, Chứng chỉ hành nghề do Bộ Tư pháp cấp là giấy tờ xác nhận tư cách luật sư, là giấy chứng nhận của Nhà nước về quyền hành nghề luật sư của người được cấp Chứng chỉ. Thẻ luật sư là giấy chứng nhận tư cách thành viên Đoàn luật sư của người được cấp Thẻ.
Tóm lại, theo quy định của Pháp lệnh Luật sư năm 2001 thì luật sư là người có đủ tiêu chuẩn luật sư và được Bộ Tư pháp cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư. Chứng chỉ hành nghề luật sư là giấy tờ chứng minh một người là luật sư và luật sư sử dụng khi hành nghề. Thành viên Đoàn luật sư là các luật sư được Ban chủ nhiệm cấp Thẻ luật sư. Thẻ luật sư được sử dụng trong sinh hoạt Đoàn luật sư.
Pháp lệnh Luật sư quy định tương đối rõ địa vị pháp lý của người được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư và người được cấp Thẻ luật sư. Khái niệm luật sư vẫn tiếp tục được quy định tại Điều 2 của Luật Luật sư năm 2006 sửa đổi, bổ sung năm 2012 và cụ thể như sau: “Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật này, thực hiện 11 dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức”. Tiêu chuẩn luật sư là một điểm mới của Luật Luật sư. Điều 10 Luật Luật sư năm 2006 sửa đổi, bổ sung năm 2012 quy định về tiêu chuẩn luật sư như sau: “Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư, có sức khoẻ bảo đảm hành nghề luật sư thì có thể trở thành luật sư”.
Cách tiếp cận thứ nhất cho rằng, theo quy định của Điều 2 Luật Luật sư thì có thể hiểu luật sư là người có Chứng chỉ hành nghề luật sư và Thẻ luật sư, nhưng phải thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của khách hàng. Cách tiếp cận thứ hai cho rằng, khái niệm luật sư và điều kiện hành nghề luật sư có nội dung trùng nhau và đề nghị quy định khái niệm luật sư theo hướng luật sư là người có đủ tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật và được cơ quan nhà nước cấp Chứng chỉ hành nghề. Tham gia vào Đoàn luật sư hay không là quyền của luật sư. Đoàn luật sư là tổ chức xã hội nghề nghiệp, do đó việc tham gia Đoàn luật sư là tự nguyện.
Khi luật sư đủ tiêu chuẩn theo luật định, được cơ quan nhà nước cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư thì có quyền hành nghề và đăng ký hoạt động mà không nhất thiết phải có một điều kiện nữa là gia nhập một Đoàn luật sư. Theo quan điểm này thì luật sư là người đủ tiêu chuẩn theo quy định của Điều 10 Luật Luật sư và được Bộ Tư pháp cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư. Kể từ thời điểm có Chứng chỉ hành nghề luật sư, thì người có Chứng chỉ hành nghề luật sư được gọi là luật sư.