Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý của thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư tại thành phố Hồ Chí Minh Chương 3: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ HÀNH NGHỀ LUẬT SƢ 1. Tổng quan về hành nghề luật sƣ và pháp luật về hành nghề luật sƣ 1.1 Nhận thức chung về luật sư và hành nghề luật sư Ở Việt Nam lâu nay vẫn sử dụng các cụm từ “nghề luật sư”, “hành nghề luật sư”. Thực ra, như vậy không hoàn toàn chính xác về mặt ngôn ngữ. Bởi lẽ “luật sư” là một danh từ chỉ người, chứ không phải dùng để chỉ một nghề.
Vì vậy trong tiếng Anh người ta dùng lawyer (luật sư) và practice law (hành nghề luật). Tuy nhiên, theo chúng tôi việc sử dụng các cụm từ “nghề luật sư” và “hành nghề luật sư” là phù hợp với thực tiễn của ta, có thể chấp nhận được, vì: Nếu dùng cụm từ “nghề luật” thì e rằng theo cách biểu hiện của ngôn ngữ Việt Nam sẽ quá rộng, không phải chỉ là việc bào chữa, biện hộ trước Tòa án và làm tư vấn pháp luật (cung cấp dịch vụ pháp lý) của luật sư. Theo thói quen sử dụng ngôn ngữ Việt Nam trong văn nói cũng như trong văn viết thì thuật ngữ “nghề luật sư” có thể được chấp nhận, cũng giống như nói “kiến trúc sư” và nghề “kiến trúc sư”, “thầy thuốc” và “nghề thầy thuốc” v. Vậy, “hành nghề luật sư” là gì? Đó là việc luật sư tham gia hoạt động tố tụng, thực hiện tư vấn pháp luật, các dịch vụ pháp lý khác theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của pháp luật.
So với nhiều nghề khác trong xã hội, nghề luật sư ở Việt Nam là một nghề khá non trẻ, tuy vậy đến nay, cũng đã ra đời hơn một thế kỷ. Dưới chế độ phong kiến, ở nhiều nước phương Đông như: Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, v., chưa tồn tại luật sư và nghề luật sư. Trong khi đó, ở một 7 số nước phương Tây, bắt nguồn tự sự sáng tạo của nền pháp chế cổ La Mã tồn tại hơn 20 thế kỷ trước, đã có người bào chữa. Nghề luật sư xuất hiện tại Việt Nam từ nửa sau thế kỷ XIX (1858) và lúc đầu chỉ thuộc về người Pháp, dành cho công dân Pháp.
Sau cách mạng Tháng Tám năm 1945, nghề luật sư được hoạt động trở lại theo Sắc lệnh số 46/SL ngày 10-10-1945 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ Cộng hòa về tổ chức các đoàn thể luật sư (sau đây gọi tắt là Sắc lệnh số 46/SL) do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký, ban hành. Mặc dù vậy, lúc đó, vì nhiều nguyên nhân, mà quan trọng là nguồn lực của đất nước phải tập trung vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp nên hầu như nghề luật sư lúc này không phát triển. Một số luật sư đã tham gia cách mạng và trở thành những nhân vật quan trong, giữ vai trò cố vấn cho Chủ tịch Hồ Chí Minh về các mặt pháp lý trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp như các luật sư: Phan Anh, Trịnh Đình Thảo, Vũ Đình Hòe, Vũ Trọng Khánh, Trần Công Tường, Phạm Văn Bạch, Phạm Ngọc Thuần, Bùi Thị Cẩm, Nguyễn Thành Vĩnh v.v… Một số luật sư thời kỳ này đã chuyển sang hoạt động lĩnh vực khác. Năm 1959 có thể xem là một năm đặc biệt quan trọng với sự ra đời của Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp tục khẳng định quan điểm của Đảng và Nhà nước về quyền bào chữa để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân.
Cụ thể, Điều 101 Hiến pháp năm 1959 quy định: “Quyền bào chữa của người bị cáo được bảo đảm”. Hiến pháp năm 1980 nêu rõ tại Điều 133: “Quyền bào chữa của bị cáo được bảo đảm. Tổ chức luật sư được thành lập để giúp bị cáo và các đương sự khác về mặt pháp lý”. Tuy nhiên, thời kỳ này, trong mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp, vai trò của Nhà nước bao trùm toàn bộ đời sống xã hội.
Nhà nước quyệt định tất cả các quá trình sản xuất – kinh doanh, từ đầu vào 8 đến lưu thông, phân phối hàng hóa bằng những mệnh lệnh hành chính. Hậu quả là nền kinh tế không phát triển, xã hội rơi vào khủng hoảng, đời sống nhân dân hết sức khó khăn, kèm theo đó là tình hình kinh tế và trật tự xã hội hết sức phức tạp. Trong bổi cảnh đó, pháp luật không được đề cao là tất yếu, nhu cầu sử dụng dịch vụ pháp lý của xã hội cũng sẽ không có, hệ quả là luật sư và nghề luật sư tồn tại chỉ mang tính hình thức. Từ năm 1986, đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu bao cấp được chuyển sang mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Theo đó, Nhà nước đóng vai trò xây dựng thể chế, bảo đảm cho việc thực hiện pháp luật, Nhà nước tạo điều kiện và cơ hội cho các chủ thể và các thành phần kinh tế hoạt động, phát triển theo quy luật của kinh tế thị trường. Đồng thời Nhà nước giảm dần và hạn chế các mệnh lệnh hành chính trong việc điều hành nền kinh tế. Cùng với những thành quả của công cuộc đổi mới đất nước, vai trò của nghề luật sư và nhiều nghề khác trong xã hội từng bước được nâng cao, đóng góp không nhỏ vào sự đổi mới chung của đất nước. Thực hiện chủ trương đổi mới của Đảng, ngày 18-12-1987, Hội đồng Nhà nước đã thông qua Pháp lệnh của tổ chức luật sư.
Từ đó, các tổ chức luật sư chuyên nghiệp ra đời thay thế cho các hình thức bào chữa viên được thiết lập ở miền Bắc từ năm 1949 và ở miền Nam sau ngày giải phóng năm 1975. Pháp lệnh của tổ chức luật sư năm 1987 đã xác lập vị trí pháp lý của nghề luật sư trong thời kỳ đổi mới của đất nước. Những quy định của pháp lệnh này đã tạo nền tảng pháp lý cho việc thành lập các Đoàn luật sư trên toàn quốc, thông qua đó tập hợp đội ngũ luật sư tham gia vào các hoạt động tư pháp, cung cấp dịch vụ pháp lý cho xã hội. Đoàn luật sư vừa đóng vai trò là tổ chức xã hội – nghề nghiệp, vừa đóng vai trò là tổ chức hành nghề luật sư.
9 Pháp lệnh luật sư năm 2001 là bước tiến về thể chế của nghề luật sư ở nước ta. Các chế định về luật sư, nghề luật sư, tổ chức hành nghề luật sư và tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư đã được hoàn thiện hơn, trong đó đã phân định rõ tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư và tổ chức hành nghề luật sư. Những quy định này đã tạo cơ hội cho nghề luật sư phát triển trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đóng góp vào công cuộc cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Kế thừa và hoàn thiện Pháp lệnh luật sư năm 2001, Luật Luật sư năm 2006 sửa đổi, bổ sung năm 2012, 2015 (sau đây gọi tắt là Luật Luật sư) ra đời là cột mốc đánh dấu sự phát triển về thể chế của luật sư, nghề luật sư, tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư và tổ chức hành nghề luật sư ở nước ta trong hơn 30 năm đổi mới vừa qua.
Việc ban hành Luật Luật sư là minh chứng về mặt pháp lý ghi nhận những mối quan hệ xã hội có liên quan đến luật sư và nghề luật sư. Nhìn chung, Nhà nước đã luật hóa và tạo cơ hội cho các quan hệ xã hội liên quan đến luật sư và nghề luật sư phát triển lành mạnh, đóng góp tích cực vào việc phát triển kinh tế - xã hội, vào công cuộc cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Khi kinh tế phát triển, các mâu thuẫn và tranh chấp kinh tế sẽ phát sinh, các vi phạm pháp luật và tội phạm cũng có thể gia tăng. Trong bối cảnh đó, Nhà nước đóng vai trò giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp, ngăn chặn, xử lý các vi phạm pháp luật và tội phạm.
Thực tiễn cho thấy, nếu các chủ thể kinh tế có sử dụng dịch vụ pháp lý của luật sư ngay từ khi bắt đầu sản xuất và trong cả quá trình kinh doanh, thì không những các mâu thuẫn, tranh chấp kinh tế sẽ giảm mà còn góp phần vào việc phát triển sản xuất – kinh doanh theo quy định của pháp luật, từ đó giúp cho Nhà nước giải quyết các tranh 10 chấp mâu thuẫn kinh tế và xử lý các vi phạm pháp luật, tội phạm hiệu quả hơn. Đối với các vụ án hình sự, nếu được tham gia quá trình tố tụng ngay từ khi thân chủ bị giam giữ, tạm giam, khởi tố vụ án, khởi tố bị can, luật sư sẽ có điều kiện phối hợp với các cơ quan điều tra giải quyết vụ án, góp phần vào việc bảo vệ công lý, bảo vệ pháp chế, tình trạng oan sai sẽ được hạn chế. Hành nghề luật sư và nghề luật sư cũng giống như nhiều nghề khác, hình thành do nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Sau 30 năm đổi mới đất nước, nền kinh tế nước ta đã có bước phát triển ngoạn mục.
Tuy vậy cho đến nay, vẫn còn nhiều vấn đề cần phải tiếp tục giải quyết để phát triển bền vững trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, đặc biệt là khi cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (bắt đầu từ năm 2016) đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn thế giới. Vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, các luật sư đã đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ngày 14-11-2013, Thủ tướng Chính phủ ký quyết định số 149/QĐ-TTg lấy ngày 10 tháng 10 hàng năm là Ngày truyền thống của Luật sư Việt Nam. Đây là mốc son chói lọi của nghề luật sư sau hơn 70 năm ra đời, phát triển trong chính thể dân chủ ở Việt Nam và không ngừng lớn mạnh trong giai đoạn hiện nay.
Pháp luật về hành nghề luật sư 1. Khái niệm pháp luật về hành nghề luật sư Luật sư và nghề luật sư luôn gắn với sự hình thành và phát triển của hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật về luật sư nói riêng.