CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ LUẬT LAO ĐỘNG Giới thiệu: Luật lao động là ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam, điều chỉnh các quan hệ lao động giữa người sử dụng lao động với người lao động và các quan hệ xã hội liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động phát sinh trong quá trình sử dụng lao động Mục tiêu: - Nắm bắt đối tượng, phương pháp, chủ thể, các nguyên tắc cơ bản của ngành luật lao động Nội dung chính: 1. Đối tượng và phương pháp điều chỉnh của ngành Luật Lao động a. Đối tượng điều chỉnh của ngành Luật Lao động Đối tượng điều chỉnh của luật lao động là các quan hệ xã hội về sử dụng lao động (quan hệ lao động) và các quan hệ phát sinh trong quá trình sử dụng lao động (quan hệ liên quan đến quan hệ lao động) gồm quan hệ về việc làm, quan hệ học nghề, quan hệ về bồi thường thiệt hại, quan hệ về bảo hiểm xã hội, quan hệ giữa người sử dụng lao động và đại diện của tập thể lao động, quan hệ về giải quyết tranh chấp lao động và các cuộc đình công, quan hệ về quản lý lao động. Phương pháp điều chỉnh của ngành Luật Lao động + Phương pháp thoả thuận: phương pháp này chủ yếu áp dụng trong trưởng hợp xác lập quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động và trong việc xác lập thoả ước lao động tập thể; + Phương pháp mệnh lệnh: được sử dụng trong lĩnh vực tổ chức và quản lí lao động, chủ yếu được dùng để xác định nghĩa vụ của người lao động đối với người sử dụng lao động; + Phương pháp thông qua các hoạt động công đoàn, tác động vào các quan hệ phát sinh trong quá trình lao động: phương pháp này được sử dụng để giải quyết những vấn đề nảy sinh trong quá trình lao động có liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động như: sắp xếp việc làm, điều động lao động, trả công, trả thưởng, thực hiện bảo hiểm xã hội.
phải có sự tham gia của tổ chức công đoàn với tư cách là người đại diện để bảo vệ quyền lợi của giới lao động. Luật lao động là một khoa học pháp lí chuyên ngành, có đối tượng nghiên cứu là toàn bộ hệ thống các quy phạm pháp luật lao động, bản chất, nội dung, sự phát sinh, phát triển của các quy phạm; nghiên cứu những nét đặc trưng của các quan hệ pháp luật lao động; nghiên cứu các quan điểm, khái niệm, tư tưởng, học thuyết pháp lí có liên quan đến ngành luật lao động; nghiên cứu mối quan hệ hữu cơ giữa quan hệ sản xuất và pháp luật lao động. Một môn học trong chương trình đào tạo luật theo các cấp độ khác nhau, nhằm trang bị cho người học những hiểu biết về quan hệ lao động và các quan hệ liên quan đến quan hệ lao động. Chủ thể của ngành Luật Lao động Chủ thể của quan hệ pháp luật lao động cá nhân là người lao động và người sử dụng lao động nhưng không phải cá nhân nào cũng có thể trở thành người lao động và 2 không phải cá nhân, tổ chức nào cũng được quyền sử dụng lao động.
Để trở thành chủ thể trong quan hệ pháp luật lao động cá nhân, người lao động và người sử dụng lao động phải có năng lực chủ thể theo quy định của pháp luật. Đe xác định năng lực chủ thể phải xem xét hai yếu tố quan trọng là năng lực pháp luật lao động và năng lực hành vi lao động. Người lao động Tự do việc làm là một trong những nguyên tắc cơ bản của luật lao động đã được hiến định và gắn liền với quyền con người (Khoản 1 Điều 35 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Công dân có quyền làm việc, lựa chọn nghê nghiệp và nơi làm việc". Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa với việc công dân đương nhiên có việc làm mà cần phải thoả mãn các yêu cầu của pháp luật.
Tập hợp các quy định của pháp luật để công dân tham gia quan hệ pháp luật lao động cá nhân là điều kiện chủ thể để công dân tham gia quan hệ với tư cách chủ thể là người lao động trong quan hệ. Người lao động trong quan hệ pháp luật lao động cá nhân trước hết phải là cá nhân vì chỉ cá nhân mới có thể ưở thành người bán sức lao động trong quan hệ mua bán hàng hoá sức lao động. Mục đích của việc tham gia quan hệ lao động của người lao động là để bán sức lao động, kiếm tiền nhằm thoả mãn các nhu cầu khác nhau. Vì vậy, người lao động phải là người có sức lao động và có quyền định đoạt nó với tư cách là một hàng hoá.
Cá nhân tham gia quan hệ lao động cá nhân với tư cách là người lao động có thể là người Việt Nam và không có quốc tịch Việt Nam (bao gồm người có quốc tịch của một nước khác hoặc người không mang quốc tịch nào ở thời điểm làm việc). Người lao động tham gia quan hệ lao động cá nhân phải có năng lực pháp luật lao động và năng lực hành vi lao động. Trong luật lao động, năng lực pháp luật lao động của công dân là khả năng mà pháp luật quy định hay ghi nhận cho công dân có quyền lao động, được hưởng quyền và có thể tự mình thực hiện nghĩa vụ của người lao động. Năng lực hành vi lao động của công dân là khả năng bằng chính hành vi của bản thân họ tham gia trực tiếp vào quan hệ pháp luật lao động cá nhân, tự hoàn thành mọi nghĩa vụ, tạo ra và thực hiện quyền, hưởng mọi quyền lợi phát sinh từ quan hệ đó.
Người tham gia quan hệ pháp luật lao động cá nhân với tư cách là người lao động có thể có năng lực chủ thể đầy đủ hoặc năng lực chủ thể hạn chế trong những trường hợp đặc biệt. Người lao động có năng lực chủ thể đầy đủ phẳi đảm bảo những điều kiện về thể lực, trí lực, có khả năng lao động. Trong quan hệ pháp luật lao động cá nhân, năng lực chủ thể của người lao động phát sinh cùng một lúc khi công dân đạt đến một độ tuổi nhất định. Khoản 1 Điều 3 BLLĐ năm 2019 quy định: “Người lao động là người làm việc cho người sử dụng lao động theo thoả thuận.
Độ tuổi tối thiểu của người lao động là đủ 15 tuổi. Ngoài quy định chung nói trên, pháp luật lao động còn có những quy định riêng về điều kiện chủ thể của người lao động, cụ thể là những trường hợp sau đây: - Người lao động là người chưa đủ 15 tuổi tham gia quan hệ lao động Người lao động chưa đủ 15 tuổi thuộc nhóm lao động chưa thành niên, chưa có sự phát triển đầy đủ cả về thể lực và nhận thức. Vì vậy, đây là nhóm lao động không được khuyến khích sử dụng. Sự hạn chế về độ tuổi đã khiến cho người lao động bị hạn 3 chế về khả năng lao động, khả năng nhận thức vì vậy cần phải tuân thủ thêm một số quy định của pháp luật lao động.
Cụ thể là, khi sử dụng lao động chưa đủ 15 tuổi phải được sự đồng ý bằng văn bản của người đại diện theo pháp luật, lập sổ theo dõi riêng, khám sức khỏe định kì (theo: Điều 144 BLLĐ năm 2019) hoặc không được sử dụng lao động chưa thành niên (bao gồm cả lao động chưa đủ 15 tuổi) làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại hoặc chỗ làm việc, công việc ảnh hưởng xấu tới nhân cách của họ (theo: Điều 147 BLLĐ năm 2019). - Người lao động là người khuyết tật: Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn (theo: Điều 2 Luật Người khuyết tật năm 2010). Một người sinh ra có thể có một cơ thể hoàn thiện và ngược lại cũng có thể có những khiếm khuyết về hình thức (các dị tật, dị hình bẩm sinh) hoặc trong quá trình làm việc, sinh hoạt, học tập, có thể vì những lí do khác nhau mà một người nào đó bị chấn thương, bệnh nghề nghiệp. Trong số những người khuyết tật, có nhiều người vẫn có khả năng lao động và lấy đó làm phương cách kiếm sống chủ yếu của bản thân.
Ngoài ra, người khuyết tật có đầy đủ các quyền con người như những người bình thường khác (Xem thêm; Công uớc của Liên hợp quốc về quyền của người khuyết tật năm 2006; Luật Người khuyết tật Việt Nam năm 2010). Vì thế, ngoài việc khuyến khích, động viên họ tham gia lao động, nhà nước và xã hội cần đảm bảo các điều kiện cần thiết để họ tham gia đầy đủ vào mọi mặt đời sống kinh tế, xã hội nói chung và tham gia quan hệ lao động nói riêng. Do vậy, khi sử dụng những lao động này cũng phải chú ý quy định riêng của pháp luật lao động dành cho người khuyết tật để giúp họ vượt qua những rào cản, tiêp cận được các điêu kiện, môi trường làm việc như những người bình thường khác (theo: Điều 159, 160 BLLĐ năm 2019). - Người lao động là người cao tuổi: Lao động cao tuổi là những người đã hết tuổi lao động theo luật định nhưng do nhu cầu của bản thân họ cũng như người sử dụng lao động nên vẫn tiếp tục tham gia quan hệ lao động.
Lao động là người cao tuổi là những người lao động do tuổi cao nên súc khoẻ bị hạn chế hơn so với lao động thông thường. Vì vậy, trong quá trình sử dụng lao động cao tuổi cũng có những điểm đáng lưu ý như không được sử dụng họ làm công việc nặng nhọc, độc hại, làm việc ban đêm…Theo Khoản 1 Điều 148 BLLĐ năm 2019. - Lao động là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; có giấy phép lao động do cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam cấp (trừ một số trường hợp). Theo Điều 151 BLLĐ năm 2019.
- Người lao động bị hạn chế một số quyền và nghĩa vụ trong lĩnh vực lao động (hạn chế về năng lực pháp luật) do họ bị cấm làm một số công việc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Fí dụ: lái xe bị cấm hành nghề lái xe vĩnh viễn do gây tai nạn chết người nghiêm trọng. Như vậy, điều kiện chung để các cá nhân được tham gia quan hệ pháp luật lao động là phải có năng lực pháp luật lao động và năng lực hành vi lao động.