Chương 1: Cơ sở lý luận về phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức cấp tỉnh. Chương 2: Thực trạng phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức tỉnh Bắc Ninh. Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lƣợng phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức cấp tỉnh hiện nay 10 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP TỈNH 1. Khái niệm phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức cấp tỉnh 1.
Khái niệm cán bộ, công chức cấp tỉnh 1. Khái niệm cán bộ, công chức Khái niệm công chức gắn liền với sự ra đời công chức ở các nƣớc tƣ bản phƣơng Tây. Khái niệm này đƣợc dùng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới nhƣng đƣợc hiểu không giống nhau, thậm chí trong phạm vi một quốc gia, quan niệm về công chức qua các thời kỳ cũng khác nhau. Ở nƣớc Pháp, công chức đƣợc hiểu là “những ngƣời đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào làm việc trong các công sở gồm các cơ quan hành chính công quyền và các tổ chức dịch vụ công cộng do nhà nƣớc tổ chức, bao gồm cả trung ƣơng và địa phƣơng nhƣng không kể đến các công chức địa phƣơng thuộc các hội đồng thuộc địa phƣơng quản lý”.
Ở Trung Quốc, công chức đƣợc hiểu là “những ngƣời công tác trong cơ quan hành chính nhà nƣớc các cấp, trừ nhân viên phục vụ”. Ở Việt Nam, công chức là một thuật ngữ đƣợc dùng rất sớm trong quản lý nhà nƣớc. Ở Việt Nam, khái niệm này đã có từ rất lâu, đƣợc du nhập từ Trung Quốc vào nƣớc ta và đƣợc dùng phổ biến trong thời kỳ kháng chiến, dùng để phân biệt với từ “nhân dân”. Trải qua từng thời kỳ phát triển của đất nƣớc, khái niệm này cũng có sự thay đổi.
Khái niệm này lần đầu tiên đƣợc xuất hiện trong Điều 1 của Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch nƣớc Việt Nam dân chủ cộng hòa, quy định quy chế công chức Việt Nam [12]. Từ sau năm 1986, Việt Nam có sự cải cách nền hành chính và có sự chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức nhà nƣớc, khái niệm công chức nhà nƣớc đƣợc sử dụng trở lại trong Nghị định 169/HĐBT ngày 25/05/1991 của Chính phủ: “Công dân Việt Nam đƣợc tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thƣờng xuyên trong một công sở của nhà nƣớc ở Trung ƣơng hay địa phƣơng, ở trong nƣớc hay ngoài nƣớc, đã đƣợc 11 xếp vào một ngạch, hƣởng lƣơng do ngân sách nhà nƣớc cấp gọi là công chức nhà nƣớc” [18] Năm 1998, Pháp lệnh Cán bộ, công chức [7] ra đời, là văn bản pháp lý cao nhất về cán bộ, công chức. Dƣới Pháp lệnh là Nghị định số 95/1998/NĐ- CP ngày 17/11/1998 về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức. Nghị định đã nêu khái niệm công chức “là công dân Việt Nam, trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc, bao gồm những ngƣời đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công việc thƣờng xuyên, đƣợc phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, đƣợc xếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp; những ngƣời làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân và công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp và công nhân quốc phòng” [14] Tuy nhiên, nhiều nội dung của Pháp lệnh cán bộ, công chức 1998 và năm 2003 đã thể hiện những sự bất cập, hạn chế.
Do đó, ngày 13/11/2008, Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 4 đã thông qua Luật Cán bộ, công chức năm 2008 [2], tạo cơ sở để giải quyết những vấn đề mà thực tiễn quản lý đang đặt ra. Lần đầu tiên trong lịch sử nƣớc ta, có một luật quy định về cán bộ, công chức. Khoản 1 Điều 4 Luật này quy định về cán bộ: “Cán bộ là công dân Việt Nam, đƣợc bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ƣơng, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc” [2]. Theo quy định này thì tiêu chí xác định cán bộ gắn với cơ chế bầu cử, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ.
Những ngƣời đủ các tiêu chí chung của cán bộ, công chức đƣợc tuyển vào làm việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội thông qua bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ thì đƣợc xác định là cán bộ. 12 Qua quá trình tổ chức thực hiện, Bộ Nội vụ đã tổng hợp ý kiến góp ý từ các Bộ, ngành, địa phƣơng trình Chính phủ và Quốc hội đã ban hành Luật số 52/2019/QH14 ngày 25/11/2019 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức. Khái niệm công chức đã đƣợc Luật này điều chỉnh theo thực tiễn đòi hỏi hiện nay. Cụ thể khoản 2 Điều 1 quy định: “Công chức là công dân Việt Nam, đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tƣơng ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ƣơng, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc” [4].
Theo quy định này thì tiêu chí để xác định công chức gắn với cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh. Những ngƣời đủ các tiêu chí chung của cán bộ, công chức mà đƣợc tuyển vào làm việc trong các cơ quan, đơn vị của Đảng, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội, bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thông qua quy chế tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh thì đƣợc xác định là công chức. Nhƣ vậy, Luật Cán bộ, công chức đã cụ thể hóa và phân định rõ hai đối tƣợng “cán bộ” và “công chức”. Điều này là căn cứ nhằm giải quyết những vấn đề mà thực tiễn quản lý cán bộ, công chức đang đặt ra và góp phần phục vụ cho công cuộc nâng cao chất lƣợng đội ngũ cán bộ, công chức nhà nƣớc nói chung và cán bộ, công chức cấp tỉnh nói riêng.
Khái niệm cán bộ, công chức cấp tỉnh Cấp tỉnh là một trong bốn cấp chính quyền trong tổ chức chính quyền nhà nƣớc ở Việt Nam hiện nay. Theo Hiến pháp năm 2013, các đơn vị hành chính của nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đƣợc phân định nhƣ sau: “Nƣớc chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng; tỉnh chia thành 13 huyện, thị xã và thành phố thuộc tỉnh; thành phố trực thuộc trung ƣơng chia thành quận, huyện, thị xã và đơn vị hành chính tƣơng đƣơng. Huyện chia thành xã, thị trấn; thị xã và thành phố thuộc tỉnh chia thành phƣờng và xã; quận chia thành phƣơng” (Điều 110). Chính quyền cấp tỉnh là chính quyền Nhà nƣớc ở cơ sở, có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng, là nền tảng của bộ máy Nhà nƣớc, là chỗ dựa, là công cụ sắc bén để thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, làm cơ sở cho chiến lƣợc ổn định và phát triển đất nƣớc, là yếu tố chi phối mạnh mẽ đến đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của cộng đồng trên địa bàn.
Từ đó có thể thấy, đội ngũ cán bộ, công chức cấp tỉnh có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện chức năng làm cầu nối giữa Đảng với nhân dân, giữa công dân với Nhà nƣớc, bởi họ là những ngƣời giải quyết mọi nhu cầu của nhân dân, bảo đảm sự phát triển kinh tế của địa phƣơng, duy trì trật tự, an ninh, an toàn xã hội trên địa bàn cấp tỉnh. Có thể hiểu cán bộ, công chức cấp tỉnh là công dân Việt Nam, đƣợc bầu cử hoặc tuyển dụng để giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong tổ chức Đảng, HĐND, UBND, các tổ chức chính trị - xã hội hoặc giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp tỉnh, trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc. Khái niệm phổ biến, giáo dục pháp luật Khái niệm phổ biến, giáo dục pháp luật là sự kết hợp của hai khái niệm “phổ biến pháp luật” và “giáo dục pháp luật”. Theo Từ điển Tiếng Việt (NXB Đà Nẵng năm 1997) [44] hay theo Từ và ngữ Hán Việt (NXB Từ điển Bách khoa – 2002) [42] thì “Phổ biến là làm cho đông đảo mọi ngƣời biết đến một vấn đề, một tri thức bằng cách truyền đạt trực tiếp hay thông qua hình thức nào đó”, “hoặc làm cho mọi ngƣời đều biết đến”.
Phổ biến pháp luật có đối tƣợng tác động rộng rãi, vừa mang ý nghĩa xã hội, vừa mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, pháp luật ban hành phải đƣợc phổ biến công khai đến tất cả các đối tƣợng mới đem lại hiệu quả cao. Ngoài ra, 14 phổ biến pháp luật còn mang tính tác nghiệp, truyền đạt nội dung pháp luật cho những đối tƣợng cụ thể để hiểu rõ các quy định của pháp luật, từ đó thực hiện đúng pháp luật trên thực tế. Hoạt động phổ biến pháp luật thƣờng đƣợc lồng ghép tại các buổi tọa đàm, tập huấn, các cuộc hội thảo. Theo Từ điển từ và ngữ Hán – Việt “Giáo dục là quá trình hoạt động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức nhằm bồi dƣỡng cho con ngƣời những phẩm chất đạo đức và những tri thức cần thiết để ngƣời ta có khả năng tham gia mọi mặt của đời sống xã hội” [42].
Theo Sổ tay hƣớng dẫn nghiệp vụ phổ biến giáo dục pháp luật thì “Giáo dục pháp luật là một khái niệm rộng bao gồm cả quá trình nâng cao tri thức pháp luật cho đối tƣợng và bằng nhiều cách (thuyết phục, nêu gƣơng, ám thị…) hình thành tình cảm, niềm tin pháp luật cho đối tƣợng, từ đó nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của đối tƣợng” [46].