chương 1 nghiên cứu sự hình thành và phát triển của môn khoa học kinh tế chính trị Mác - Lênin. Trong đó chỉ ra sự liên hệ giữa kinh tế chính trị Mác - Lênin trong dòng chảy tư tưởng kinh tế của nhân loại. Kinh tế chính trị Mác - Lênin là bộ môn khoa học được bắt nguồn từ sự kế thừa những kết quả khoa học của kinh tế chính trị nhân loại, do C. Ăng ghen sáng lập, được Lênin và các đảng cộng sản, công nhân quốc tế bổ sung phát triển cho đến ngày nay.
Môn khoa học Kinh tế chính trị Mác - Lênin nghiên cứu các quan hệ xã hội giữa con người với con người trong sản xuất và trao đổi trong một nền sản xuất xã hội gắn với lực lượng sản xuất và kiến trúc thƣợng tầng tương ứng của nền sản xuất xã hội đó. Các thuật ngữ cần ghi nhớ: Phương pháp trừu tượng hóa khoa học: 16 Tài liệu đang trong quá trình xin ý kiến góp ý để hoàn thiện. Không phổ biến Là phương pháp nghiên cứu mà trong đó việc nghiên cứu được tiến hành thông qua tách các hiện tượng ngẫu nhiên, không điển hình thuộc đối tượng nghiên cứu để tìm ra bản chất của đối tượng nghiên cứu, từ đó có thể khái quát được các quy luật chi phối sự vận động của đối tượng nghiên cứu. Chức năng của Kinh tế chính trị Mác - Lênin: Kinh tế chính trị Mác - Lênin giúp khám phá các quy luật kinh tế chi phối các quan hệ xã hội giữa con người với con người trong sản xuất và trao đổi; cung cấp tri thức lý luận kinh tế cơ bản, nền tảng cho việc tiếp cận các khoa học kinh tế chuyên ngành khác; với Việt Nam, kinh tế chính trị Mác - Lênin góp phần củng cố tư tưởng cho người lao động yêu chuộng tự do, mong muốn phấn đấu vì một xã hội tốt đẹp, văn minh.
Vấn đề thảo luận: Chỉ ra sự liên hệ giữa kinh tế chính trị Mác - Lênin trong hệ thống các khoa học kinh tế? Câu hỏi ôn tập: 1. Phân tích sự hình thành và phát triển của kinh tế chính trị Mác - Lênin? 2. Đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác - Lênin? Chức năng của kinh tế chính trị Mác - Lênin với tư cách là một môn khoa học? 3. Nêu ý nghĩa của việc nghiên cứu kinh tế chính trị Mác - Lênin trong quá trình lao động và quản trị quốc gia? Tài liệu học tập Tài liệu bắt buộc đọc: 1.Ekelund, JR và Robert F.Hébert (2003), Lịch sử các học thuyết kinh tế, Bản tiếng Việt, Nxb Thống kê, H.
Viện Kinh tế chính trị học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2018), Giáo trình Kinh tế chính trị Mác - Lênin, Nxb Lý luận Chính trị, H. Tài liệu đọc thêm 1. Bộ Giáo dục và đào tạo (2018), Giáo trình kinh tế chính trị Mác - Lênin dành cho hệ Cao đẳng, Đại học chuyên lý luận chính trị, Nxb Giáo dục, H. Ănghen: Toàn tập, tập 20, tập 23, Nxb Chính trị quốc gia, 1994, H.
Lênin: Toàn tập, tập 3, Nxb Tiến bộ Maxcơva, 1976, M. 17 Tài liệu đang trong quá trình xin ý kiến góp ý để hoàn thiện. Không phổ biến Chương 2 HÀNG HÓA, THỊ TRƯỜNG VÀ VAI TRÒ CỦA CÁC CHỦ THỂ THAM GIA THỊ TRƯỜNG Lý luận giá trị là cơ sở nền tảng để xây dựng học thuyết giá trị thặng dư và cũng là xuất phát điểm trong toàn bộ học thuyết kinh tế của C. Dựa trên nghiên cứu về hàng hóa, về lao động sản xuất hàng hóa và đặc biệt là phát hiện ra tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa, C.Mác đã giải quyết được triệt để các vấn đề liên quan đến nguồn gốc, bản chất của giá trị mà các nhà kinh tế trước ông chưa làm được; từ đó, làm rõ nguồn gốc thực sự của giá trị, giá trị thặng dư, lợi nhuận và các hình thức biểu hiện của lợi nhuận trong kinh tế thị trường.
Tính khoa học và cánh mạng trong lý luận giá trị của C.Mác đã góp phần làm cho học thuyết giá trị thặng dư trở thành viên đá tảng trong trong toàn bộ học thuyết kinh tế của ông. Nội dung cơ bản trong lý luận giá trị của C.Mác gồm các vấn đề về hàng hóa và hai thuộc tính của hàng hóa; tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa; nguồn gốc, bản chất của giá trị; tiền tệ, giá cả, giá cả thị trường và các mối quan hệ kinh tế giữa những người sản xuất hàng hóa trên thị trường biểu hiện thông qua các quy luật kinh tế. Ngày nay, mặc dù trong kinh tế học hiện đại xuất hiện nhiều lý thuyết và các quan niệm khác nhau về giá trị, lao động, tiền tệ, thị trƣờng… song lý luận giá trị của C.Mác vẫn còn nguyên giá trị, vẫn là cơ sở khoa học quan trọng để nghiên cứu nền sản xuất hàng hóa và kinh tế thị trƣờng hiện đại.1 SẢN XUẤT HÀNG HÓA VÀ HÀNG HÓA 2.1 Sản xuất hàng hóa 2.1 Điều kiện ra đời của sản xuất hàng hóa Sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế mà ở đó những ngƣời sản xuất ra sản phẩm không phải để tiêu dùng cho bản thân mà để trao đổi, mua bán trên thị trƣờng. Trong lịch sử, không phải ngay từ đầu khi loài người xuất hiện đã có sản xuất hàng hóa.
Sản xuất hàng hóa chỉ tồn tại và phát triển trong một số phương thức sản xuất xã hội, gắn liền với những điều kiện lich sử nhất định.Mác, sản xuất hàng hóa chỉ ra đời khi có đủ hai điều kiện là phân công lao động xã hội và sự tách biệt về mặt kinh tế giữa các chủ thể sản xuất. Phân công lao động xã hội là sự phân chia lao động xã hội thành các ngành, các lĩnh vực sản xuất khác nhau, tạo nên sự chuyên môn hóa của những người sản xuất thành những ngành, nghề khác nhau. Do phân công lao động xã hội, 18 Tài liệu đang trong quá trình xin ý kiến góp ý để hoàn thiện. Không phổ biến mỗi người chỉ sản xuất một hoặc một vài sản phẩm nhất định.
Trong khi đó, nhu cầu của họ lại đòi hỏi nhiều loại sản phẩm khác nhau. Để thỏa mãn nhu cầu, giữa những người sản xuất phải trao đổi sản phẩm với nhau. Vì vậy, phân công lao động xã hội làm xuất hiện mối quan hệ trao đổi sản phẩm giữa những ngƣời sản xuất với nhau. Phân công lao động xã hội càng phát triển thì sản xuất và trao đối sản phẩm càng mở rộng hơn, đa dạng hơn.
Với ý nghĩa đó, phân công lao động xã hội đóng vai trò là cơ sở cho sự ra đời của sản xuất hàng hóa. Tuy nhiên, nếu chỉ có phân công lao động xã hội thì cũng chưa thể có sản xuất và trao đổi hàng hóa. Trong lịch sử, ở một số công xã cổ đại đã có sự phân công lao động khá chi tiết, như công xã thị tộc Ấn Độ thời cổ đại, nhưng sản phẩm của lao động chưa trở thành hàng hóa. Bởi vì ở đó, tư liệu sản xuất là của chung, sản phẩm của từng nhóm sản xuất chuyên môn hóa cũng là của chung, đƣợc dùng chung cho các thành viên trong công xã, không phải thông qua trao đổi, mua bán.
Vì vậy, muốn sản xuất hàng hóa ra đời và tồn tại phải có điều kiện thứ hai là sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế giữa các chủ thể sản xuất. Sự tách biệt về mặt kinh tế giữa các chủ thể sản xuất làm cho giữa những người sản xuất độc lập với nhau, khác nhau về lợi ích. Trong điều kiện đó, người này muốn tiêu dùng sản phẩm của người khác phải thông qua trao đổi, mua bán sản phẩm, tức là phải trao đổi dưới hình thức hàng hóa. Nói cách khác, sự tách biệt về mặt kinh tế giữa những người sản xuất đòi hỏi việc trao đổi sản phẩm giữa họ với nhau phải dựa trên nguyên tắc bình đẳng, ngang giá, hai bên đều có lợi; tức là trao đổi mang hình thái trao đổi hàng hóa.
Trong lịch sử, sự tách biệt về mặt kinh tế giữa các chủ thể sản xuất bắt đầu xuất hiện khi chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất ra đời. Sau này, do sự xuất hiện nhiều hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất; sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng tư liệu sản xuất; sự xuất hiện của nhiều hình thức kinh tế cụ thể khác nhau… nên sự tách biệt về mặt kinh tế giữa các chủ thể sản xuất tiếp tục tồn tại và đa dạng hơn. Tóm lại, sản xuất hàng hóa chỉ ra đời và tồn tại khi có đủ hai điều kiện trên. Thiếu một trong hai điều kiện thì không có sản xuất hàng hóa và sản phẩm của lao động cũng không mang hình thái hàng hóa.2 Đặc trưng và ưu thế của sản xuất hàng hóa Lịch sử phát triển sản xuất của xã hội được bắt đầu từ sản xuất tự cấp tự túc tiến lên sản xuất hàng hóa.
Sản xuất tự cấp, tự túc là sản xuất ra sản phẩm nhằm thỏa mãn trực tiếp nhu cầu của người sản xuất. Kiểu tổ chức sản xuất tự cấp, tự túc, hay còn gọi là kinh tế tự nhiên, gắn liền với giai đoạn sơ khai của sản xuất, khi lực lượng sản xuất chưa phát triển, tình trạng phổ biến của sản xuất là lao động giản đơn, đóng cửa, khép kín, hướng vào thỏa mãn nhu cầu hạn hẹp, thấp kém. Sự hạn chế của nhu cầu đã hạn chế sản xuất phát triển. 19 Tài liệu đang trong quá trình xin ý kiến góp ý để hoàn thiện.
Không phổ biến Sản xuất hàng hóa ra đời là bước phát triển sản xuất quan trọng trong lịch sử phát triển của xã hội loài người. Sản xuất hàng hóa đã phá vỡ tính khép kín tự cung, tự cấp của sản xuất, phá vỡ tính cát cứ phong kiến, giải phóng lực lượng sản xuất, lực lượng lao động và nâng cao hiệu quả kinh tế của xã hội. So với sản xuất tự cấp, tự túc, sản xuất hàng hóa có đặc trưng và ưu thế cơ bản sau: Sản xuất hàng hóa là sản xuất sản phẩm cho người khác, sản xuất để bán trên thị trường nên việc mở rộng quy mô sản xuất không bị hạn chế bởi nhu cầu hạn hẹp của người sản xuất. Chính nhu cầu lớn và không ngừng tăng lên là một động lực mạnh mẽ cho sự phát triển của sản xuất hàng hóa.