chương I cũng giới thiệu các loại hình hệ thống thông tin khác nhau ứng dụng. trong hỗ trợ nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức, doanh nghiệp. Sau khi học xong chương này, người học cần đạt được các yêu cầu sau: - Có hiểu biết cơ bản về những khái niệm: Dữ liệu, thông tin, hệ thống, hệ thống thông tin trong tổ chức, doanh nghiệp. ~ Có kiến thức về vai trò, nhiệm vụ và sự cần thiết của hệ thống thông tin quản lý trong tổ chức, doanh nghiệp.
- Có thể phân loại được các hệ thống thông tin quản lý trong doanh nghiệp cũng như mục đích sử dụng của chúng trong hoạt động của. NHỮNG KHÁI NIỆM CHUNG 1. Dữ liệu và thông tin 1. Khái niệm dữ liệu, thông tin Dữ liệu là những sự kiện hoặc những quan sát về hiện tượng vật lý hoặc các giao dịch kinh doanh, dữ liệu chính là các giá trị phản ánh về sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan, bao gồm tập giá trị mà người dùng có thể chưa biết được sự liên hệ giữa các giá trị này.
Ví dụ: “Hiền Mai”, “Ngày 20/10/2015, “Số định danh MH012”, “Số 1, Cầu Giấy, Hà Nội” là các giá trị dữ liệu mô tả trung thực đặc tính của đối tượng. Giá trị “Hiền Mai” là tên của một người, “Số 1, Cầu Giấy, Hà Nội” là một địa chỉ nhà,. dựa vào các giá trị này người sử dụng có thể biết được vài đặc điểm của sự vật, hiện tượng đang được nhắc đến. Thông tin là một bộ dữ liệu được tổ chức, doanh nghiệp sử dụng một phương thức nhất định sao cho chúng mang lại một giá trị gia tăng so với giá trị vốn có của bản thân dữ liệu.
Thông tin chính là dữ liệu đã qua xử lý (phân tích, tổng hợp, thống kê) có ý nghĩa thiết thực, phù hợp với mục đích cụ thể của người sử dụng. Thông tin có thể gồm nhiều giá trị dữ liệu có liên quan nhằm mang lại ý nghĩa trọn vẹn cho một sự vật, hiện tượng. cụ thể trong một ngữ cảnh. Thông tin có tính chất phản ánh và liên quan đến hai chủ thể: Chủ thể phản ánh (truyền tin) và đối tượng nhận sự phản ánh đó (tiếp nhận thông tin).
Để chuyển tải được thông tin cần có “vật mang thông tin”, vi dụ như ngôn ngữ, chữ cái, chữ số, các ký hiệu, bảng biểu, hình ảnh, các. Khối lượng tri thức mà một thông tin mang lại gọi là nội dung thông tin. Tuy nhiên, nội dung và ý nghĩa thông tin mang lại sẽ phụ thuộc rất nhiều vào đối tượng tiếp nhận thông tin, có những thông tin chỉ có ý nghĩa đối với một nhóm người nhưng có những thông tỉn có ý nghĩa với nhiều nhóm người hoặc cả xã hội. Để biến đổi dữ liệu thành thông tin có giá trị sử dụng cần phải dùng.
một số qui tắc và các mối liên hệ giữa các dữ liệu nhằm thu được kết quả phục vụ cho các mục đích khác nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của tổ chức, doanh nghiệp, các loại thông tin được tạo ra phụ thuộc vào mối quan hệ giữa những dữ liệu hiện có của chúng. Ví dụ: “Khách hàng Hiền Mai, địa chỉ số 1, Cầu Giấy, Hà Nội có phiếu đặt hàng. mang mã số MH012 phát hành ngày 20/10/2015” là thông tỉn mô tả hoạt động mua hàng của khách hàng Hiền Mai được tập hợp từ các dữ liệu “Hiền Mai”, “Ngày 20/10/2015”,. Thông tin có vai trò vô cùng to lớn trong các hoạt động của con người, là một loại nguồn lực đặc biệt quan trọng trong tổ chức, doanh nghiệp.
Các nhà quản lý cần thông tin để hoạch định và điều khiển tắt cả các tiến trình trong tổ chức, doanh nghiệp của mình, thông tin giúp cho tổ chức, doanh nghiệp tồn tại, phát triển trong môi trường hoạt động của nó, thông tin trợ giúp nhà quản lý trong tổ chức, doanh nghiệp hiểu rõ thị trường, định hướng cho sản phẩm mới, cải tiến tổ chức và các hoạt động, sản xuất kinh doanh. Thông tin được hình thành từ xử lý dữ liệu, được thực hiện bằng. cách liên kết một nhóm dữ liệu với hiểu biết sẵn có của mỗi người nhằm thu được kiến thức mới phù hợp với mục đích sử dụng. Mức độ tiếp nhận lượng thông tin phụ thuộc vào hiểu biết của người nhận thông tin, do đó, thông tin thường mang tính chủ quan.
Ví dụ: “nhiệt độ phòng là 30°C” là dữ liệu trung thực đo được từ nhiệt kế, còn “căn phòng quá nóng” là thông tin chủ quan, tuy nhiên phát biểu “căn phòng quá nóng” thường, dẫn đến các hành động thiết thực hơn phát biểu thứ nhất (như mở cửa số, bật quạt). Như vậy, vai trò cơ bản của thông tin là hướng dẫn cho người nhận thông tin hiểu rõ về vấn đề đang tổn tại và tìm giải pháp cho vấn đề, trong khi vai trò của dữ liệu là phản ánh trung thực những sự vật, hiện tượng đang tồn tại khách quan. Quá trình xử lý dữ liệu để biến chúng thành thông tin có thể được thực hiện thủ công (bằng giấy, bút,.) hoặc thực hiện tự động nhờ vào máy tính điện tử. Hầu hết các tổ chức, doanh nghiệp đều cần đến thông.
tin quản lý nhằm phục vụ các mục đích khác nhau như: lập kế hoạch sản xuất kinh doanh; kiểm soát kết quả thực hiện kế hoạch; ghỉ nhận giao dịch; đo lường năng lực hoạt động sản xuất kinh doanh; hỗ trợ cho việc ra quyết định hoạt động của tổ chức, doanh nghiệp. Để có thể phục vụ được nhiều mục đích cho tổ chức, doanh nghiệp, thông tin cần đảm bảo một số tính chất như: Tính chính xác, độ tin cậy, tính đầy đủ, tính phù hợp, kịp thời, toàn vẹn, dé str dụng,. Thông tin thiếu chính xác, thiếu tin cậy hoặc không đầy đủ có thể dẫn đến những dự báo, quyết định thiếu chính xác, gây thiệt hại cho tổ chức, doanh nghiệp, thông tin không được cung cấp đầy đủ, kịp thời hay thông tin quá phức tạp cũng đều ít có giá trị sử dụng đối với tổ chức, doanh nghiệp. Thông tin và đữ liệu được thể hiện dưới nhiều dạng khác nhau, được.
truyền hoặc lưu trữ bằng nhiều cách khác nhau tương ứng với dang thé hiện của thông tin như trong Bảng 1. Các dạng thể hiện thông tin trong tổ chức, doanh nghiệp STT| Dạngthôngtin Kênh truyền tin Phương tiện lưu trữ 1 |Văn bản: đoạnvăn _ |Giấy, màn hình, bảng hiệu _ | Cặp hồ sơ, đĩa cứng 2_ |Hình ảnh: các biểu đồ |Phim, mang may tinh 'Cuộn phim, đĩa cứng, CD 3 |Âm thanh: tiếng nói _ [Không khí, điện thoại |Băng từ, đĩa cứng, CD. 4 |Video 'Sóng điện từ, mạng máy tinh | Bia cứng, băng video, phim nhựa 5 | Siêu liên kết Mạng máy tính May chủ Web. Trong tổ chức, doanh nghiệp, kênh truyền tin được phân thành 2 loại chính: Kênh thông tin hình thức và kênh thông tin phi hình thức, cả hai kênh này đều là nguồn cung cấp thông tin cần thiết cho nhà quản lý.
Kênh thông tin hình thức: Là kênh thông tin do tỗ chức, doanh nghiệp thiết lập chính thức để truyền tải nội dung thông tin một cách trung thực, chính xác, kịp thời, đúng đối tượng, ví dụ như các hệ thống báo cáo nội bộ và quản lý công văn của tổ chức, doanh nghiệp. Kênh thông tin hình thức là kênh phản ánh thực trạng trong nội bộ của tổ chức, doanh nghiệp, chúng dùng để truyền tải các quyết định quan trọng, hoặc diễn tả các vấn đề mà các nhà quản lý cần quan tâm. Nội dung của các ván đề sẽ là dữ liệu trung thực về các đặc trưng quan trọng của sự việc, hiện tượng diễn ra hàng ngày trong tổ chức, doanh nghiệp, như diễn biến công việc (tiến độ, chất lượng, chi phi) hay tình hình kinh doanh (doanh số và doanh thu). Kênh thông tin phi hình thức: Là kênh thông tin cung cắp tin tức, sự kiện, trì thức khoa học phổ biến.
Kênh thông tin phi hình thức thường không được tổ chức, doanh nghiệp thiết lập chính thức, chúng không gắn liền với các công việc cụ thể của tổ chức, doanh nghiệp, vì thế những. thông tỉn trên các kênh này không nằm trong sự theo đối của tổ chức, doanh nghiệp. Vi dụ: Các loại hình báo chí, các chương trình truyền hình, các hội thảo, các diễn đàn,. Phan logi thông tìn trong tỗ chức, doanh nghiệp Các thông tin sử dụng trong tổ chức, doanh nghiệp thường được phân thành ba loại: Thông tin chiến lược, thông tin chiến thuật và thông tin tác nghiệp.
Thông tin chiến lược: Là những thông tin sử dụng cho mục tiêu dài hạn của một tổ chức, doanh nghiệp, chúng là mối quan tâm chủ yếu của. nhà chiến lược cấp cao. Thông tin chiến lược cho tổ chức, doanh nghiệp. bao gồm những thông tin về tiềm năng, cách thức thâm nhập thị trường, chỉ phí cho nguyên vật liệu, quyết định phát triển sản phẩm, những thay đổi về năng suất lao động và các công nghệ mới xuất hiện.
Về bản chắt, thông tin chiến lược là những thông tin liên quan tới việc lập kế hoạch lâu dài, thiết lập dự án và đưa ra những dự báo cho sự phát triển trong tương. lai của tổ chức, doanh nghiệp. Thông tin chiến thuật: Là những thông tin sử dụng cho mục tiêu ngắn hạn (một tuần, một tháng, một quý hoặc một năm), thường là mối quan tâm chủ yếu của các phòng ban chức năng trong tổ chức, doanh nghiệp. Chúng có thể là những thông tin từ kết quả phân tích số liệu bán hàng, đánh giá hoạt động của dòng tiền, yêu cầu các nguồn lực cho sản xuất và các báo cáo tài chính theo thời gian.
Thông tin chiến thuật thường xuất phát từ những dữ liệu phản ánh hoạt động nghiệp vụ hàng ngày trong t6 chức, doanh nghiệp. Do đó, thông tin chiến thuật yêu cầu một quá trình xử lý thông tin hợp lý, chính xác và nhanh chóng. Ngoài ra, thông tin chiến thuật còn là kết quả cụ thể hoá thông tin chiến lược thành các hoạt động nghiệp vụ cơ bản trong các phòng ban chức năng khác nhau trong. tổ chức, doanh nghiệp.
Thông tin tác nghiệp: Là những thông tìn sử dụng cho những công việc ngắn hạn diễn ra trong vài ngày thậm chí vài giờ trong một phòng. ban nào đó của tổ chức, doanh nghiệp. Về bản chất, thông tin tác nghiệp. được rút ra một cách nhanh chóng từ hệ thống cơ sở dữ liệu về các hoạt động nghiệp vụ hay tác nghiệp của các phòng ban chức năng trong tổ chức, doanh nghiệp.
Chẳng hạn, những thông tin về số lượng chứng khoán mà tổ chức, doanh nghiệp đang có trong tay, thông tin về lượng đơn đặt hàng, thông tin về tiến độ công việc là những thông tin tác nghiệp của tổ chức, doanh nghiệp.