Luận án tiến sĩ: Những nhân tố ảnh hưởng tới ý định sử dụng OER của sinh viên các trường đại học kinh tế - Đào Thiện Quốc

Nghiên cứu nhân tố ảnh hưởng ý định sử dụng OER của sinh viên kinh tế. Phân tích tác động công nghệ, chất lượng tài liệu và động lực trong giáo dục mở.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2020

175
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về tài nguyên giáo dục mở và ý định sử dụng của sinh viên

Tài nguyên giáo dục mở (OER) là tài liệu giảng dạy, học tập và nghiên cứu được phát hành dưới dạng mở, cho phép người dùng tiếp cận miễn phí. Khái niệm này được UNESCO giới thiệu năm 2002 tại diễn đàn về giáo dục đại học mở. OER bao gồm nhiều loại tài liệu như bài giảng, giáo trình, mô phỏng thí nghiệm và hướng dẫn học tập. Tại Việt Nam, Nghị quyết 29-NQ/TW về đổi mới căn bản giáo dục đã nhấn mạnh vai trò của hệ thống giáo dục mở, linh hoạt. Nghiên cứu về ý định sử dụng OER của sinh viên khối kinh tế và quản trị kinh doanh giúp hiểu rõ hành vi tiếp nhận nguồn tài nguyên này. Các trường đại học khối VNEUs đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho nền kinh tế.

1.1. Khái niệm và đặc điểm của tài nguyên giáo dục mở

OER được định nghĩa là tài nguyên giáo dục nằm trong vùng công cộng hoặc được cấp phép mở, cho phép mọi người sử dụng, tái sử dụng, điều chỉnh và phân phối lại. Đặc điểm nổi bật của OER là tính miễn phí, khả năng tùy biến và phạm vi tiếp cận rộng rãi. Các loại OER phổ biến bao gồm sách giáo khoa mở, khóa học trực tuyến mở (MOOC), video bài giảng, phần mềm giáo dục và cơ sở dữ liệu học thuật. Giấy phép Creative Commons thường được áp dụng để bảo vệ quyền lợi của tác giả.

1.2. Thực trạng sử dụng OER tại Việt Nam và trên thế giới

Trên thế giới, phong trào OER phát triển mạnh mẽ với nhiều nền tảng lớn như MIT OpenCourseWare, Khan Academy và Coursera. Tại Việt Nam, việc sử dụng OER còn hạn chế do nhiều yếu tố như thiếu nhận thức, rào cản ngôn ngữ và hạ tầng công nghệ chưa đồng bộ. Nghị quyết 29 của Đảng đã tạo cơ chế chính sách cho phát triển giáo dục mở. Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy sinh viên khối kinh tế vẫn chưa tận dụng đầy đủ các nguồn tài nguyên này phục vụ học tập và nghiên cứu.

II. Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới ý định sử dụng OER của sinh viên

Nghiên cứu tổng hợp nhiều mô hình lý thuyết để xác định các nhân tố ảnh hưởng tới ý định sử dụng OER. Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) và lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) được áp dụng rộng rãi trong nghiên cứu này. Các nhân tố chính bao gồm: nhận thức về tính dễ sử dụng, nhận thức về tính hữu ích, thái độ đối với OER, chuẩn chủ quan và kiểm soát hành vi nhận thức. Nghiên cứu cũng xem xét vai trò của yếu tố cá nhân như giới tính, trình độ công nghệ thông tin và năm học. Dữ liệu được thu thập từ sinh viên các trường đại học khối VNEUs thông qua bảng hỏi định lượng. Phương pháp phân tích bao gồm phân tích nhân tố khám phá (EFA) và mô hình phương trình cấu trúc (SEM).

2.1. Mô hình nghiên cứu và các giả thuyết

Mô hình nghiên cứu đề xuất tích hợp các yếu tố từ TAM, TPB và các nghiên cứu trước đó về OER. Các giả thuyết chính tập trung vào mối quan hệ giữa nhận thức dễ sử dụng, tính hữu ích với thái độ và ý định sử dụng. Yếu tố chuẩn chủ quan từ giảng viên và bạn bè cũng được xem xét. Kiểm soát hành vi nhận thức đo lường khả năng tự tin trong việc tìm kiếm và sử dụng OER. Mô hình được kiểm định bằng dữ liệu thử nghiệm trước khi áp dụng đại trà.

2.2. Phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu

Nghiên cứu áp dụng phương pháp hỗn hợp gồm nghiên cứu định tính và định lượng. Giai đoạn định tính sử dụng phỏng vấn chuyên gia để xác định các biến quan trọng. Bảng hỏi được thiết kế theo thang đo Likert 5 điểm, dịch sang tiếng Việt và kiểm định độ tin cậy. Quy mô mẫu bao gồm sinh viên từ nhiều trường đại học khối kinh tế. Dữ liệu được phân tích bằng phần mềm SPSS và SmartPLS, sử dụng phân tích hồi quy đa biến và kiểm định mô hình cấu trúc.

III. Giải pháp nâng cao ý định sử dụng tài nguyên giáo dục mở

Dựa trên kết quả nghiên cứu, nhiều giải pháp được đề xuất để thúc đẩy việc sử dụng OER trong giáo dục đại học. Các trường cần tổ chức đào tạo kỹ năng tìm kiếm, đánh giá và sử dụng OER cho sinh viên. Giảng viên đóng vai trò quan trọng trong việc giới thiệu và hướng dẫn sinh viên tiếp cận nguồn tài nguyên mở. Nhà trường nên xây dựng kho tài nguyên OER nội bộ, tích hợp vào hệ thống quản lý học tập. Chính sách khuyến khích sử dụng OER cần được ban hành rõ ràng. Hợp tác quốc tế và liên kết mạng lưới OER giúp mở rộng nguồn tài nguyên. Công nghệ thông tin và hạ tầng mạng cần được đầu tư đồng bộ để hỗ trợ truy cập OER hiệu quả.

3.1. Vai trò của giảng viên và cơ sở giáo dục

Giảng viên là cầu nối quan trọng giữa sinh viên và nguồn OER chất lượng. Họ cần được đào tạo về bản quyền mở, cách đánh giá và lựa chọn tài liệu phù hợp. Cơ sở giáo dục nên xây dựng chính sách hỗ trợ giảng viên phát triển OER nội bộ. Thư viện số và hệ thống quản lý học tập cần tích hợp sẵn các nguồn OER. Chương trình đào tạo kỹ năng số cho sinh viên nên bao gồm nội dung về OER và học tập mở.

3.2. Chính sách và chiến lược phát triển OER trong giáo dục đại học

Cần có chiến lược quốc gia về phát triển OER, gắn với mục tiêu đổi mới giáo dục. Quỹ hỗ trợ phát triển OER nên được thành lập để khuyến khích giảng viên đóng góp. Hệ thống kiểm định chất lượng OER giúp đảm bảo tài nguyên đạt chuẩn giáo dục. Hợp tác giữa các trường đại học trong khối VNEUs tạo nguồn OER chuyên ngành kinh tế phong phú. Chính sách tín chỉ công nhận học tập qua OER khuyến khích sinh viên chủ động học tập.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu OER

Nghiên cứu đã xác định được các nhân tố có ảnh hưởng显著 tới ý định sử dụng OER của sinh viên khối kinh tế. Nhận thức về tính hữu ích và thái độ tích cực là hai nhân tố có tác động mạnh nhất. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng chiến lược phát triển OER tại các trường đại học. Mô hình nghiên cứu có thể áp dụng cho các khối ngành khác và mở rộng phạm vi nghiên cứu. Thực tiễn cho thấy sự kết hợp giữa chính sách nhà trường, vai trò giảng viên và hạ tầng công nghệ là chìa khóa thành công. Nghiên cứu góp phần vào mục tiêu xây dựng xã hội học tập, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực theo tinh thần Nghị quyết 29.

4.1. Đóng góp lý luận và thực tiễn của luận án

Luận án đóng góp vào lý thuyết về chấp nhận công nghệ trong giáo dục mở tại Việt Nam. Mô hình nghiên cứu tích hợp nhiều yếu tố phù hợp với bối cảnh giáo dục đại học Việt Nam. Kết quả cung cấp dữ liệu empiric về hành vi sử dụng OER của sinh viên khối kinh tế. Nghiên cứu cũng đề xuất thang đo mới cho việc đo lường ý định sử dụng OER. Thực tiễn, kết quả giúp các trường xây dựng chiến lược phát triển OER hiệu quả.

4.2. Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

Nghiên cứu có một số hạn chế về phạm vi đối tượng và phương pháp. Mẫu nghiên cứu chủ yếu tập trung vào sinh viên khối VNEUs, chưa đại diện cho toàn bộ sinh viên đại học. Phương pháp định lượng có thể bỏ sót các yếu tố định tính quan trọng. Hướng nghiên cứu tiếp theo nên mở rộng phạm vi và áp dụng phương pháp hỗn hợp sâu hơn. Nghiên cứu dài hạn theo dõi sự thay đổi hành vi sử dụng OER theo thời gian cũng cần được thực hiện.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ hệ thống thông tin quản lý những nhân tố ảnh hưởng tới ý định sử dụng nguồn tài nguyên giáo dục mở của sinh viên các trường đại học khối kinh tế và quản trị kinh

Trích đoạn nội dung tài liệu

PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do lựa chọn đề tài Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, xã hội đang bước vào giai đoạn đầu của cách mạng 4.0, cuộc cách mạng được ví như là Internet của vạn vật (Internet of things - IoT), xã hội thông tin toàn cầu. Việc tiếp cận nguồn tri thức và thông tin ngày càng trở nên cần thiết, sự quan tâm của các học giả đối với cách tìm kiếm, sử dụng, sáng tạo và phổ biến kiến thức ngày càng tăng (Nonaka, 1994; Choo và cộng sự, 1999; Hedesstrom và Whitley, 2000; Lafrenière và cộng sự, 2013). Trong trường đại học, kiến thức và tài nguyên thông tin dưới dạng tài liệu giáo dục là rất cần thiết để nâng cao chất lượng giáo dục (Mulder, 2008), các tổ chức giáo dục đại học luôn coi trọng đến các nguồn tài nguyên giáo dục, bao gồm tài nguyên số và các công cụ để hỗ trợ cho việc dạy và học.

Giáo dục luôn là vấn đề ưu tiên ở mỗi quốc gia, song không phải lúc nào chính phủ cũng đáp ứng đủ kinh phí (Bank, 2010). Vấn đề được đặt ra là làm sao để giảm tải chi phí nhưng vẫn đảm bảo chất lượng cho giáo dục, luận án này đề cập tới một trong những hướng mà thế giới đang hướng tới giải quyết, đó là nguồn tài nguyên giáo dục mở (Open Educational Resources - OER). Sự ra đời của nguồn tài nguyên này, giúp giảm chi phí cho giáo dục, đồng thời làm tăng cường chất lượng giáo dục, đảm bảo sự phát triển công bằng và bền vững cho giáo dục, đúng như mục tiêu thứ 4 của Liên Hợp Quốc về giáo dục đề ra “Đến năm 2030, đảm bảo sự bình đẳng cho cả nam và nữ, trong tiếp cận nền giáo dục chất lượng với chi phí vừa phải về đào tạo kỹ thuật, dạy nghề, bao gồm cả đại học” (UNESCO, 2015). Để thực hiện được tiêu chí trên, UNESCO đã khuyến cáo các quốc gia thực hiện nhiều biện pháp, trong đó có giải pháp về phát triển và sử dụng tài nguyên giáo dục mở, bởi những đặc tính mà OER có khả năng mang lại cho giáo dục (Butcher, 2015; Col, 2011; UNESCO, 2019).

Việt Nam đã có những chính sách nhằm đổi mới, phát triển giáo dục một cách toàn diện và bền vững, trong nghị quyết số 29-NQ/TW của Đảng về đổi mới giáo dục có nêu rõ như, nhiệm vụ đổi mới hệ thống giáo dục theo hướng mở, linh hoạt giữa các bậc học và các phương thức giáo dục, đào tạo, tạo điều kiện cho mọi người có cơ hội học tập thường xuyên, suốt đời theo các hình thức khác nhau. Gần đây nhất, ngày 14 tháng 6 năm 2019, Quốc hội nước Công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã công bố Luật số: 43/2019/QH14 về Luật giáo dục. Điều 4: Phát triển giáo dục, khoản 3 có nêu rõ “Phát triển hệ thống giáo dục mở, xây dựng xã hội học tập nhằm tạo cơ hội để mọi người được tiếp cận giáo dục, được học tập ở mọi trình độ, mọi hình thức, học tập suốt đời”. Điều 39: Mục tiêu của giáo dục đại học, khoản 1 nêu rõ “Đào tạo nhân lực trình 2 độ cao, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài; nghiên cứu khoa học và công nghệ tạo ra tri thức, sản phẩm mới, phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, hội nhập quốc tế” (Quốc hội Việt Nam, 2019).

Theo các điều khoản này cho thấy sự triển khai nguồn tài nguyên giáo dục mở là rất phù hợp để đáp ứng yêu cầu trên. Hiện nay, các trường đại học ở Việt Nam đang phát triển theo xu hướng tự chủ và hội nhập quốc tế (Phạm Công Nhất, 2015; Nguyễn Hiếu, 2018). Tuy nhiên việc tự chủ và hội nhập quốc tế của giáo dục đại học Việt Nam còn nhiều thách thức hạn chế. Những thách thức này đến từ ba phía (Nguyễn Hiếu, 2018): (i) thứ nhất: Từ phía cơ quan quản lý Nhà nước, (ii) thứ hai: Từ chính các trường đại học vẫn muốn tiếp tục cơ chế bao cấp, sự áp lực tài chính không thực hiện nổi và (iii) thứ ba: Từ người học và xã hội chưa sẵn sàng đổi mới.

Trong ba thách thức hạn chế trên, nghiên cứu của luận án liên quan nhiều tới thách thức thứ iii. Điều này có nghĩa, các trường đại học cần sẵn sàng tự đổi mới, làm sao để người học tự nâng cao ý thức đổi mới sẵn sàng chấp nhận sử dụng những công nghệ giáo dục mới, tìm ra những giải pháp tốt nhất cho sự đổi mới. Chắc chắn có nhiều giải pháp, song nghiên cứu sinh (NCS) cho rằng một trong những giải pháp đó chính là việc nghiên cứu và đưa OER vào sử dụng trong các trường đại học, bởi tính hội nhập quốc tế cao cũng như tính hiệu dụng của nguồn tài nguyên này. Năm 2019, có đến 56% các trường cao đẳng và đại học ở Hoa Kỳ đang sử dụng sách giáo khoa miễn phí từ OpenStax, trong ít nhất một khóa học và đã tiết kiệm 200 triệu USD, từ việc sử dụng OER của OpenStax (Rhea Kelly, 2019).

OpenStax là một sáng kiến công nghệ giáo dục phi lợi nhuận, có trụ sở tại Đại học Rice, tất cả sách của Openstax đều gắn giấy phép CC (Creative Commons) (Wikipedia, 2019c), đáp ứng là nguồn tài nguyên giáo dục mở. Điều đó tương đương với 5.900 tổ chức với gần ba triệu sinh viên tại Hoa Kỳ đang sử dụng OER của OpenStax, nhà xuất bản có trụ sở tại Đại học Rice. Nhưng ở Việt Nam, hiện tại chưa có trường đại học nào chính thức đưa OER vào chương trình đào tạo, giảng dạy chính thức. Những hoạt động OER ở Việt Nam mới chỉ dừng lại việc xây dựng được một trang web nhằm phát triển OER, với tên VOER, do Vietnam Foundation tài trợ (hiện tại trang có 22.171 tài liệu, 518 tuyển tập của 8.372 tác giả), bên cạnh hoạt động này là các hội nghị, hội thào về OER (Đỗ Văn Hùng và cộng sự, 2019).

Điều này cho thấy giáo dục đại học Việt Nam đang thực sự lãng phí khi chưa sử dụng đến nguồn OER mà thế giới đang dùng, trong khi các trường phải chi phí cao cho việc mua tài liệu nước ngoài. Hiện tại, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang thực hiện dự án hỗ trợ tự chủ giáo dục đại học Việt Nam, dự án mang tên 3 SAHEP (Support for Autonomous Higher Education Project for Vietnam) do World Bank tài trợ (Nguyễn Hiếu, 2019), một trong những gói của dự án là tài trợ xây dựng thư viện điện tử dùng chung cho các trường đại học Việt Nam, chuyên sâu khối Kinh tế và quản trị kinh doanh (VNEUs), lấy thư viện trường Đại học Kinh tế Quốc dân làm đầu mối, với tổng mức đầu tư là 11 triệu đô la, trong đó đã dành ra 5 triệu đô la để mua tài liệu trên CSDL nước ngoài. Điều này cho thấy nhu cầu tài liệu quốc tế phục vụ cho đào tạo trong nước là rất cần thiết, nhưng các trường đại học Việt Nam hiện nay ngoài việc đi mua dữ liệu nước ngoài, vẫn chưa tính đến việc sử dụng một cách chính thức nguồn OER vào giảng dạy, đây là một thiếu sót, đòi hỏi các nhà nghiên cứu cần sớm nghiên cứu những vấn đề có liên quan để đưa OER vào các trường đại học ở Việt Nam. Những vấn đề đặt ra cho nghiên cứu nhằm đưa OER vào thực hiện ở các trường đại học ở Việt Nam là có những nhân tố nào ảnh hưởng tới việc sử dụng OER trong trường đại học, những nhân tố đó tác động thế nào tới ý định sử dụng OER của giáo viên, sinh viên hay nhà nghiên cứu trong trường? Cùng với đó, để phát triển OER trong trường đại học một cách bền vững, hiện đã có mô hình hệ thống thông tin (HTTT) quản lý OER cho trường đại học chưa?.

Từ những vấn đề đặt ra, NCS nhận thấy (i) hiện tại ở Việt Nam chưa có nghiên cứu nào phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới ý định sử dụng OER của sinh viên các trường đại học ở Việt Nam, từ đó đề xuất giải pháp nhằm đưa OER vào sử dụng trong nhà trườn, (ii) để đưa OER vào sử dụng trong trường đại học và phát triển hiệu quả, rất cần có một mô hình HTTT quản lý nguồn tài nguyên này, nhưng cho đến nay chưa có một mô hình HTTT nào cho việc quản lý OER trong trường đại học ở Việt Nam. Với hai khoảng trống trên cùng với bối cảnh đặc biệt là Bộ Giáo dục và Đào tạo đang triển khai Dự án thư viện điện tử cho các trường đại học Việt Nam, chuyên sâu khối Kinh tế và Quản trị kinh doanh như đã nêu ở trên, NCS nhận thấy cần thiết nghiên cứu về những nhân tố ảnh hưởng tới ý định sử dụng OER của sinh viên khối Kinh tế và Quản trị Kinh doanh ở Việt Nam, từ đó đề xuất những giải pháp, nhằm đưa OER vào ứng dụng trong các trường đại học ở Việt Nam. Do vậy, NCS đã thực hiện nghiên cứu với tên đề tài: “Những nhân tố ảnh hưởng tới ý định sử dụng nguồn tài nguyên giáo dục mở của sinh viên các trường đại học khối Kinh tế và Quản trị Kinh doanh ở Việt Nam”. NCS hy vọng đề tài có ý nghĩa cả về mặt khoa học lẫn thực tế đối với việc xây dựng chính sách triển khai ứng dụng OER cho các trường đại học ở Việt Nam.

4 Với đề tài này, câu hỏi quản lý đặt ra là: “Có những nhân tố nào và mức độ tác động của các nhân tố đó tới ý định sử dụng OER của sinh viên ra sao? Mô hình nào cho hệ thống thông tin quản lý OER trong trường đại học và mối quan hệ tác động của hệ thống này tới các nhân tố đó như thế nào?”. Để trả lời câu hỏi này, luận án đặt ra mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu sau đây. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu tổng quát của nghiên cứu nhằm xác định rõ những nhân tố và mức độ tác động của các nhân tố, đến ý định sử dụng OER của sinh viên, từ đó đề xuất các giải pháp cùng mô hình quản lý đưa OER vào áp dụng trong các trường đại học ở Việt Nam, trước tiên tập trung cho khối các trường đào tạo về Kinh tế và Quản trị kinh doanh. Mục tiêu cụ thể Trên cơ sở mục tiêu tổng quát, mục tiêu cụ thể của nghiên cứu hướng tới làm rõ các vấn đề sau: - Mục tiêu 1: Hệ thống hóa cơ sở lý luận về OER, lợi ích của OER trong giáo dục đại học.

- Mục tiêu 2: Nêu rõ thực trạng sử dụng OER; lựa chọn mô hình cơ sở lý thuyết phù hợp với đề tài nghiên cứu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ