Chương 1: Tổng quan. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Hàm ý và kiến nghị. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương này sẽ giới thiệu cơ sở lý thuyết về nghiên cứu bao gồm: (1) Các khái niệm liên quan đến phần mềm ERP; (2) Các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến triển khai thành công ERP (3) Đề xuất mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến triển khai thành công ERP tại các doanh nghiệp Việt Nam. Giới thiệu về hoạch định nguồn lực doanh nghiệp (ERP) 2. Khái niệm ERP là một phần mềm dùng để tích hợp và xử lý thông tin của một đơn vị hay giữa các đơn vị trong một doanh nghiệp (Kumar và cộng sự, 2000).
ERP là một phần mềm giúp cho doanh nghiệp hoạch định và quản lý những phần quan trọng của quá trình kinh doanh bao gồm lập kế hoạch sản xuất, mua hàng, quản lý hàng tồn kho, giao dịch với nhà cung cấp, cung cấp dịch vụ khách hàng và theo dõi đơn đặt hàng (Olson, 2004). ERP là một phần mềm quản lý các hoạt động kinh doanh trong một doanh nghiệp, là một hệ thống thống nhất, tích hợp các chức năng chứ không phải là một nhóm chức năng riêng biệt, tách rời (Alshawi, 2004). ERP tập hợp tất cả dữ liệu từ các quy trình khác nhau và lưu trữ trong một cơ sở dữ liệu tập trung cho phép sử dụng thông tin theo nhiều cách khác nhau (Aernoudts, R., Boom, van der, T. ERP là một bộ các mô đun hay ứng dụng kinh doanh liên kết các đơn vị trong một doanh nghiệp như tài chính, kế toán, sản xuất, nguồn nhân lực,… thành một hệ thống tích hợp chặt chẽ duy nhất với một nền tảng chung cho luồng thông tin xuyên suốt trong toàn bộ công việc kinh doanh (Beheshti, 2006).
Quá trình hình thành hoạch định nguồn lực doanh nghiệp (ERP) Theo Umble và cộng sự (2003), quá trình hình thành và phát triển ERP như sau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Trong những năm 1960, trọng tâm của hệ thống sản xuất là kiểm soát hàng tồn kho. Các doanh nghiệp có thể có đủ khả năng giữ rất nhiều hàng tồn kho để đáp ứng nhu cầu khách hàng và giữ tính cạnh tranh. Do đó, các công việc hàng ngày chủ yếu tập trung vào cách quản lý khối lượng lớn hàng tồn kho sao cho hiệu quả nhất. Hầu hết các gói phần mềm (thường làm theo yêu cầu theo doanh nghiệp) được thiết kế để xử lý hàng tồn kho dựa trên khái niệm hàng tồn kho truyền thống.
Trong những năm 1970, các doanh nghiệp không còn khả năng để giữ và duy trì số lượng lớn hàng tồn kho nữa. Điều này dẫn đến sự ra đời của phần mềm hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu (MRP – Material Requirement Planning). MRP là một bước tiến rất lớn trong quá trình hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu. Lần đầu tiên trong sản xuất sử dụng một kế hoạch sản xuất tổng thể.
Để sản xuất theo đơn đặt hàng hay dự báo bán hàng, dựa trên cấu trúc danh sách nguyên liệu (BOM – Bill Of Materials), thông tin tồn kho và lịch sản xuất để tính toán ra tổng nhu cầu nguyên vật liệu và các thành phần trong các công đoạn của quá trình sản xuất. Đồng thời đưa ra yêu cầu hủy bỏ những đơn đặt hàng không cần thiết và các đề xuất tối ưu hóa việc mua hàng bằng cách tính toán thời điểm có thể nhận nguyên vật liệu từ nhà cung cấp vào thời điểm cần số hàng đó cho sản xuất. Những năm 1980, phần mềm hoạch định nguồn lực sản xuất (MRP II – Manufacturing Resource Planning) được phát triển từ MRP. Từ vấn đề chính là hoạch định và kiểm soát sản xuất và tồn kho, MRP II được mở rộng để kiểm soát các nguồn lực của doanh nghiệp sản xuất như: Sản xuất, tiếp thị, mua hàng, tài chính và năng lượng.
Điều này cho phép doanh nghiệp có một hệ thống tích hợp hơn, giúp việc lập kế hoạch và lập lịch trình cho các nguồn lực doanh nghiệp sản xuất hiệu quả hơn. Vào những năm 1990, những cải tiến trong công nghệ tiếp tục cho phép MRP II được mở rộng để hợp nhất tất cả những hoạch định nguồn lực trong toàn bộ doanh nghiệp như: thông tin kho bãi, hoạch định nguyên vật liệu, hoạch định nguồn nhân lực, tài chính, quản lý chất lượng, thiết kế sản phẩm và quản lý dự án,. ERP LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 không những sử dụng trong các doanh nghiệp sản xuất mà còn được sử dụng ở bất kỳ doanh nghiệp nào muốn tăng cường năng lực cạnh tranh. Từ sau năm 2000, một thế hệ mới của ERP còn gọi ERP II, ERP II đã phát triển từ ERP và kết hợp với Quản lý chuỗi cung ứng (SCM – Supply Chain Management), Quản lý quan hệ khách hàng (CRM – Customer Relationship Management) cùng với sự phát triển của thương mại điện tử.
Và những năm gần đây thuật ngữ Kinh doanh thông minh (BI – Business Intelligence) cũng được tích hợp vào ERP. BI làm tăng khả năng kiểm soát thông tin của doanh nghiệp một cách chính xác, hiệu quả từ đó có thể phân tích, khai phá tri thức giúp doanh nghiệp có thể dự đoán về xu hướng của giá cả dịch vụ, hành vi khách hàng, phát hiện khách hàng tiềm năng để đề ra các chiến lược kinh doanh phù hợp nhằm tăng khả năng cạnh tranh doanh nghiệp. Như vậy, phần mềm ERP được hình thành và phát triển từ những hệ thống quản lý và kiểm soát kinh doanh hay nói cách khác là từ các phương pháp quản lý kinh doanh. Sự phát triển của ERP cũng gắn đồng thời với sự phát triển của công nghệ máy tính, từ những giai đoạn phần mềm được chạy trên những máy tính lớn, sau đó trên các giải pháp khách chủ và hiện nay là thời kỳ mạng internet cho các xử lý kinh doanh điện tử.
Cấu trúc hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp (ERP) Phần mềm ERP được tạo thành từ nhiều mô-đun khác nhau, giúp điều hành kinh doanh một cách hiệu quả hơn. Một mô-đun cơ bản là một phần của một phần mềm ERP đó và có thể mua riêng để đáp ứng nhu cầu kinh doanh. Theo Shehab và cộng sự (2004) một phần mềm ERP điển hình bao gồm các mô đun sau: - Bán hàng và phân phối (Sales and Distribution): Mô đun này được chia thành hai vùng chức năng chính. (1) Bán hàng bao gồm các chức năng: Xử lý đơn đặt hàng, cấu hình sản phẩm, chính sách giá, báo giá, khuyến mại và lựa chọn phương thức vận chuyển.
(2) Phân phối bao gồm các chức năng: Yêu cầu phân LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 phối, quản lý giao nhận, lịch vận chuyển, kiểm soát xuất khẩu, thanh toán, hóa đơn và xử lý giảm giá. - Quản lý nguyên vật liệu (Materials management): Mô đun này được chia thành hai vùng chức năng chính. (2) Hoạch định sản xuất: Hoạch định quy trình, cấu trúc danh sách nguyên vật liệu, giá thành sản phẩm và hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu. - Quản lý chất lượng (Quality management): Quản lý chất lượng chuỗi cung ứng, bảo trì nhà máy và dịch vụ khách hàng.
- Nguồn nhân lực (Human resources): Các chức năng liên quan đến lập kế hoạch lực lượng lao động, lịch nhân viên, đào tạo và phát triển nhân viên, tiền lương và phúc lợi, chi phí duy chuyển của nhân viên, kho dữ liệu ứng viên, mô tả công việc, sơ đồ tổ chức,. - Quản lý dự án (Project management): Các chức năng liên quan đến kiểm soát các giai đoạn của dự án như từ báo giá và thiết kế cho đến khi dự án đạt được sự chấp thuận, quản lý nguồn lực, giải quyết chi phí. - Tài chính và kế toán (Financial and Accounting): Liên quan đến sự tính toán tài chính, quản lý đầu tư, kiểm soát chi phí, quản lý ngân khố, quản lý tài sản, kiểm soát doanh nghiệp, các trung tâm chi phí, các trung tâm lợi nhuận, ngân sách vốn, phân tích lợi nhuận, đo lường hiệu suất doanh nghiệp. Vì đặc trưng của phần mềm ERP là có cấu trúc mô đun, trong đó từng mô đun có thể hoạt động độc lập nhưng vẫn có khả năng kết nối với nhau, thế nên tính chia sẻ thông tin và liên kết được thể hiện rất rõ góp phần quan trọng trong việc hỗ trợ tác nghiệp và ra quyết định của nhiều đối tượng khác nhau một cách kịp thời và chính xác.
Bên cạnh đó, quy trình làm việc thống nhất và trách nhiệm được xác định rõ ràng trong phần mềm ERP. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Đặc điểm hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp (ERP) Theo Zeng và cộng sự (2003), một phần mềm ERP có các đặc điểm sau: - Tính linh hoạt: Phần mềm ERP có khả năng thích ứng với sự thay đổi nhu cầu của tổ chức trong tương lai. - Tính toàn diện: Phần mềm ERP bao gồm nhiều mô đun khác nhau nên có thể hỗ trợ nhiều quy trình kinh doanh của doanh nghiệp.
- Tính mở và môn đun hóa: Phần mềm ERP cho phép bất kỳ mô đun nào tích hợp vào cũng như tách ra khỏi hệ thống mà không ảnh hưởng những mô đun còn lại. - Tính kết nối: ERP không chỉ bị giới hạn bên trong doanh nghiệp mà còn hỗ trợ kết nối từ các đơn vị bên ngoài doanh nghiệp. Lợi ích hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp (ERP) Một số nghiên cứu đã xác định các lợi ích quan trọng khác nhau của phần mềm ERP mang đến cho tổ chức. Theo O’Leary (2000), phần mềm ERP tích hợp phần lớn các quy trình kinh doanh và cho phép truy cập vào các dữ liệu trong thời gian thực.
Hơn nữa, phần mềm ERP cải thiện mức độ hiệu suất của một chuỗi cung ứng bằng cách giúp giảm chu kỳ thời gian (Gardiner và cộng sự , 2002). Ngoài ra có một số lợi ích vô hình mà một tổ chức cũng mong muốn triển khai phần mềm ERP như: Sự hài lòng của khách hàng tốt hơn, hiệu suất nhà cung cấp được cải thiện, tăng tính linh hoạt, giảm chi phí, cải thiện lợi ích tài nguyên, nâng cao độ chính xác thông tin và cải thiện khả năng ra quyết định (Siriginidi, 2000). Theo Poston và Grabski (2001), các lợi ích của ERP bao gồm: Cải thiện quá trình ra quyết định, cung cấp thông tin kịp thời và chính xác hơn, gia tăng thỏa mãn của khách hàng, linh hoạt với những thay đổi của môi trường.