Chương 1 TỔNG QUÁT VỀ DƯỢC LÝ HỌC THÚ Y Mục tiêu chính là giới thiệu tóm tắt lịch sử cùng xu hướng phát triển của môn học, một số khái niệm và các kiến thức cơ bản của dược lý học nói chung và dược lý thú y nói riêng. Sau khi học xong chương này, sinh viên biết cách phân biệt chủ yếu giữa thuốc chữa bệnh với các chế phẩm khác, trên cơ sở đó áp dụng vào thực tế khi sử dụng thuốc cho từng loài vật nuôi với các hướng sản xuất khác nhau trong từng giai đoạn phát triển của chúng. Nội dung chính: - Giới thiệu tóm tắt lịch sử và xu hướng phát triển của môn học - Một số khái niệm cơ bản của môn học - Các nhóm yếu tố (cơ thể và ngoài cơ thể) có ảnh hưởng tác dụng dược lý. LỊCH SỬ MÔN DƯỢC LÝ HỌC 1.
Quá trình phát triển môn học Lịch sử phát triển môn dược lý học bắt đầu từ buổi đầu của lịch sử loài người. Nó luôn luôn tồn tại và phát triển song song cùng lịch sử đấu tranh sinh tồn của con người với thiên nhiên để phòng chống dịch bệnh cho người và vật nuôi. Thời cổ đại, người Ai Cập và Hy Lạp đã biết sử dụng các loại thực vật với mục đích làm thuốc trị bệnh. Lúc đó nền y dược cổ truyền gắn liền với tín ngưỡng, đa số các thầy tu cũng là những thầy thuốc.
Sách Papyrus - Ebers ra đời khoảng 1.500 năm trước Công nguyên (TCN) cũng đã ghi tác dụng của thuốc phiện, thiên thiên tử, hạt thầu dầu,. đều là các vị thuốc hiện nay vẫn đang sử dụng. Các danh y nổi tiếng của nhân loại: Hyppocrate (640 TCN), Aristote (384 – 322 TCN), Galien (131 - 201 TCN) đã để lại nhiều công trình khoa học có giá trị về thuốc, những luận điểm, những lời chỉ giáo qúi báu cho việc hành nghề y dược chữa bệnh cứu người. Columella người bạn cùng thời với Galien đã hướng dẫn cách sử dụng amoniac, nước sắc cành nguyệt quế, bã rượu vang, các dầu thực vật khác trong điều trị bệnh cho động vật.
1 Cuối thế kỷ thứ IV, Vegetius Renatus viết cuốn sách “Điều trị thú y” đầu tiên. Ông đã tổng kết các kinh nghiệm điều trị bệnh cho vật nuôi của những người đi trước đồng thời giới thiệu những kinh nghiệm của chính bản thân mình. Avicena (980 - 1037) người Ai Cập đã sử dụng nhiều loại thuốc trong điều trị bệnh như long não, acid benzoic,. ông cũng là người đứng ra tổ chức cửa hàng bán thuốc, viết sách về bào chế học.
Paraxen (1483 - 1541) trong tác phẩm “Iatrokemia”, đã giải thích tác dụng của thuốc trên cơ sở tính chất hoá học của chúng. Ông cũng sử dụng các chế phẩm của sắt, đồng, kẽm, thuỷ ngân, chì,. trong điều trị. Bourgelat đề xuất thành lập trường đào tạo thú y ở Lyon năm 1762.
Đây là cột mốc quan trọng nhất trong lĩnh vực thú y. Cũng chính Bourgelat là người đầu tiên trên thế giới viết cuốn sách “Dược lý học thú y” năm 1765. Sau đó một thời gian ngắn, nhiều nước ở châu Âu cũng thành lập trường thú y. Cuối thế kỷ XVI, nhiều ngành khoa học tự nhiên có điều kiện phát triển, đặc biệt môn sinh lý học.
Ngành này đã thúc đẩy mạnh mẽ việc nghiên cứu tác dụng của thuốc trên cơ thể sống. Trên đà này, ngành dược lý học đã ra đời và phát triển nhanh chóng. Ngày nay dược lý học đã phát triển mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực khác nhau: - Tên tuổi của các nhà khoa học Pirogov, Morton, Crawford gắn liền với những thành tựu về thuốc mê: ether, chloroform trong phẫu thuật ngoại khoa. - Lister (1867) nghiên cứu về thuốc sát trùng phenol.
Semmelweis (1818 - 1865) nghiên cứu về sự sát khuẩn của nước clor. - Những công trình chiết xuất hoạt chất từ thực vật ở giai đoạn này cũng phát triển mạnh. Sertuner (1805) chiết được morphin từ thuốc phiện, Pelletier và Magendie (1817) chiết được emetyl, Pelletierin và Caventon (1818) chiết được strychnin từ hạt mã tiền,. - Behring (1890) sản xuất được kháng độc tố bạch cầu.
- Ehrlich và cộng sự đã dùng chế phẩm tổng hợp để diệt khuẩn. Ngành hoá học trị liệu - một ngành mới của dược lý đã hình thành và phát triển không ngừng, nhất là trong vài thập kỷ gần đây. Các thuốc kháng sinh trở thành những vũ khí sắc bén để khống chế và điều trị nhiều bệnh nhiễm khuẩn của người và vật nuôi. - Lunyin biết đến Vitamin và vai trò của chúng trong đời sống động vật từ năm 1881, Eikman (1896) viết về bệnh tê phù (Beri - beri) ở gà do thiếu vitamin B1.
- Điều trị bằng hormon được ghi nhận từ năm 1830 do Johannes Muller, Berthold (1849), Brown - Sequand (1889). Từ đó đã có nhiều công trình nghiên cứu về tuyến nội tiết, tách chiết hormon, xác định bản chất hoá học, tác dụng dược lý và cuối cùng là tổng hợp và sản xuất các hormon. Các lĩnh vực khác: Thuốc tê, thuốc mê, an thần trấn tĩnh, tim mạch,. cũng có những đóng góp rất lớn trong dược lý học.
2 Được sự trợ giúp của nhiều ngành khoa học: Sinh học phân tử, vi sinh vật, di truyền,. dược lý học ngày càng phát triển mạnh mẽ và thu được những kết quả to lớn theo nhiều hướng khác nhau. Các kết quả đều được ứng dụng trong phòng trị bệnh cho người và vật nuôi không chỉ đem lại hiệu quả kinh tế cao mà còn góp phần bảo vệ môi trường sống. Nền công nghiệp dược phẩm phát triển mạnh từ thập kỷ cuối thế kỷ XX trở lại đây.
Ngày càng có thêm nhiều loại thuốc (dược phẩm) được nghiên cứu và đưa ra điều trị cho hiệu quả cao. Hiện nay, việc theo dõi tác dụng của thuốc trong lâm sàng diễn biến rất phức tạp. Do vậy, khi dùng thuốc, chúng ta không chỉ khai thác triệt để mặt có lợi, mà cần biết đầy đủ các tác dụng phụ không mong muốn trên cơ sở đó có biện pháp ngăn ngừa và xử lý kịp thời. Người có chuyên môn giỏi phải biết kết hợp tốt các khâu: chẩn đoán đúng bệnh, chọn đúng thuốc, điều trị kịp thời.
Xu hướng nghiên cứu và các thành tựu mới Gần đây, ngành công nghệ sinh học phát triển đã phát hiện những kháng sinh mới độc đáo về mặt cấu trúc chứa các nhóm hoạt chất có tính năng, ái lực mạnh với các đích tác dụng đã được chọn lọc trong mầm bệnh. Đặc biệt, những thuốc này còn có khả năng làm giảm các phản ứng phụ có hại. Ngoài ra, việc cải biến, lựa chọn gen còn làm tăng năng suất sản xuất kháng sinh, giảm giá thành sản phẩm thuốc (xem mục công nghệ kháng sinh chương 14). Các peptid và protein có hoạt tính sinh học cao được cấy vào vi khuẩn, nấm, hoặc tế bào động vật, biến chúng thành những nhà máy sinh học sản xuất thuốc.
Đã có rất nhiều sản phẩm thuốc được sản xuất bằng phương pháp này. Cần quan tâm nhiều hơn đến khả năng điều trị mới từ những thành tựu về dược lý học di truyền. Ngày nay, dược lý học di truyền thực chất là dược lý học gen (pharmacogenetica). Gần đây, nhiều tác giả viết về các phản ứng enzyme trong quá trình chuyển hóa, đây là cơ sở khoa học để giải thích tác động đặc hiệu của thuốc ở mức độ phân tử trong cơ thể.
Nhiều loại receptor đã được biết đến nhờ sự phát triển sinh vật nói chung và sinh sản vô tính nói riêng. Receptor màng tế bào, một lĩnh vực nghiên cứu mới rất quan trọng trong nhiều quá trình hoạt động của tế bào. Tác dụng dược lý đặc hiệu của thuốc không thể thiếu vắng receptor. Nếu enzyme là chất xúc tác quan trọng hàng đầu thì receptor lại có vai trò quan trọng lớn hơn.
Chính receptor có tác động, điều hòa hoạt động của enzyme dưới ảnh hưởng của tín hiệu thứ nhất ngoài tế bào tạo nên. Các hiểu biết về receptor màng tế bào cho phép ta giải thích được nhiều cơ chế tác dụng của thuốc, nhiều nguyên nhân bệnh học phân tử dưới mức tế bào, từ đó đưa ra được nhiều loại thuốc mới, nhiều biện pháp trị bệnh hợp lý, chính xác và hiệu quả cao. Hiểu biết về receptor màng giúp các nhà chuyên môn hiểu sâu sắc những nét cơ bản của y sinh học phân tử, làm cơ sở khoa học để hiểu sâu hơn về cơ chế trong việc sử dụng thuốc điều trị bệnh và chủ động dự phòng ngộ độc thuốc. 3 Ở thế kỷ XXI, vấn đề dược lý học gen sẽ đề cập nhiều đến lĩnh vực tác dụng phụ của thuốc ở mức độ phân tử.
Con đường sắp tới của dược lý học gen là làm sao để thuốc chỉ có tác dụng chính (mong muốn) không hoặc ít tác dụng phụ. Rất nhiều kết quả kiểm tra về gen gắn liền với những thành tựu tiến bộ và các kết quả nghiên cứu về thuốc; đặc biệt là thuốc chống ung thư, virut, tạo điều kiện thuận lợi cho ngành công nghệ dược phẩm ngày càng phát triển mạnh. Hai mặt này có tác động tương hỗ với nhau. Dược lý học và dược lý học thú y là mắt xích quan trọng của chuỗi hoạt động sinh học đó.
Mục tiêu của dược lý học thú y Mục tiêu của môn học dược lý thú y là sinh viên sau khi học xong có thể: - Trình bày và giải thích được cơ chế tác dụng của thuốc, đặc biệt là tác dụng đặc hiệu của thuốc thông qua các enzyme và receptor trên màng. Từ đó biết cách ứng dụng các nhóm thuốc cụ thể trong lâm sàng để phòng và điều trị những bệnh cụ thể trên các loài vật nuôi nhất định. - Phân tích được những tác dụng không mong muốn và độc tính của thuốc để biết cách dự phòng và xử trí kịp thời khi xảy ra trên những loài vật nuôi mẫn cảm. - Kê được các đơn thuốc đúng nguyên tắc, đúng chuyên môn, đúng pháp lý.
Điều này đặc biệt quan trọng trong chăn nuôi theo mô hình trang trại tập trung số lượng lớn gia súc. Bác sỹ thú y cũng như chủ trang trại và nhà chăn nuôi cần nắm rõ nguyên tắc sử dụng thuốc và cần chú ý: - Không có thuốc nào vô hại, chỉ dùng khi thật cần, tránh lạm dụng thuốc. - Không phải thuốc đắt tiền luôn là thuốc tốt nhất. - Bác sỹ thý y, nhà chuyên môn trong khi hành nghề phải luôn luôn học hỏi để nắm được kiến thức dược lý của các thuốc mới, những hiểu biết mới hay áp dụng mới của các thuốc cũ.