CHƯƠNG 1 1. Giải thích khái niệm điều tra xã hội học. Giải thích đối tượng của điều tra xã hội học. Điều tra xã hội học có những chức năng gì ? Phân tích ý nghĩa của nó.
CÁC GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA XÃ HỘI HỌC Giới thiệu Nghiên cứu xã hội học là một quá trình nhận thức đặc biệt, được thực hiện trong một thời gian nhất định với nhiều giai đoạn khác nhau: công việc chuẩn bị, điền dã thu thập thông tin, xử lý kết quả và viết báo cáo khái quát kết quả và được thực hiện trong những thời kỳ khác nhau. Như vậy, phụ thuộc vào yêu cầu của các nhiệm vụ cần được giải quyết, một cuộc nghiên cứu xã hội học có thể được thực hiện theo các giai đoạn và các bước khác nhau. Bất cứ một cuộc điều tra nghiên cứu nào cũng đều có một trình tự chung và qua các bước được hoạch định sẵn. Nhìn chung, đối với một cuộc điều tra XHH trải qua 3 giai đoạn chính: chuẩn bị điều tra; tiến hành điều tra; xử lý kết quả điều tra.
Mục tiêu - Giải thích được quy trình của một cuộc điều tra xã hội học; phân tích được những vấn đề cơ bản của điều tra xã hội học như : đặt tên đề tài, xác định mục đích, nhiệm vụ, xây dựng giả thuyết nghiên cứu, mô hình và thao tác lý luận. - Thực hành thành thạo được trọn vẹn một cuộc điều tra xã hội học; xây dựng thành thạo phiếu hỏi; hoàn thiện được các mẫu điều tra. - Sử dụng số liệu điều tra theo đúng quy định đạo đức trong nghiên cứu công tác xã hội. Nội dung chính 1.
Giai đoạn chuẩn bị điều tra (1, 2) Trong giai đoạn này người nghiên cứu cần xác định rõ vấn đề nghiên cứu cụ thể và có các phương án điều tra. Đối với những cuộc điều tra uy mô lớn có liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực thì việc xây dựng phương án điều tra cần có sự thảo luận, bàn bạc thống nhất và phải được các cấp thảm quyền phê duyệt. Xác định vấn đề nghiên cứu và đặt tên đề tài Bất kỳ một hiện tượng kinh tế xã hội nào cũng có thể được quan sát, xem xét, nghiên cứu trên nhiều mặt, nhiều khía cạnh và nhiều góc độ. Ở mỗi mặt, mỗi khía cạnh đều có những kết luận khác nhau và phục vụ cho một mục đích cụ thể.
Vì vậy , trước khi tiến hành điều tra, cần xác định rõ cuộc điều tra để tìm hiểu vấn đề gì, phục vụ yêu cầu nghiên cứu nào. Đó chính là việc xác định vấn đề và mục đích của cuộc điều tra. Khi lựa chọn đề tài nghiên cứu, đặc biệt là các đề tài có tính thực tiễn cần tham khảo một số nguyên tắc sau để đảm bảo tính khả thi: - Phải tạo được sự quan tâm: đó có thể là vấn đề mà xã hội đang quan tâm, hay của nhà nghiên cứu hay nhà tài trợ. Chỉ có vấn đề nào thu hút được sự quan tâm, sự chú ý của người nghiên cứu, thì vấn đề đó mới được nhà nghiên cứu để tâm, ra sức tìm hiểu, nhận thức và tìm hướng giải quyết, và như vậy nghiên cứu mới có hiệu quả.
- Hai là, phải có tính cấp bách: tức là những vấn đề nổi cộm, có tính thời sự và cần phải giải quyết ngay. - Ba là, phải có tính hữu dụng - Phải có tính khả thi - Tính độc đáo của đề tài - Tính đến khả năng của nhà nghiên cứu: trình độ, khả năng về nguồn lực…. Xác định đề tài cũng cần thiết phải trả lời các câu hỏi: “ Nghiên cứu cái gi?” và “ Nghiên cứu ai?” Vấn đề nghiên cứu sẽ được cụ thể hóa thông qua tên đề tài nghiên cứu: Tên đề tài cần nêu một cách vắn tắt thể hiện được nội dung của cuộc nghiên cứu. Tên đề tài phải có được hai ý đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu nếu thiếu một trong hai ý trên sẽ rất khó khăn cho việc thu thập thông tin sau này.
20 Một số nguyên tắc phải tuân thủ khi đặt tên cho đề tài: - Ngắn gọn, rõ ràng: đảm bảo mọi người cùng có một cách hiểu thống nhất. - Đề cập trực tiếp vào vấn đề cần nghiên cứu. Thông qua tên đề tài có thể thấy rõ được mục đích nghiên cứu. - Cho thấy được đối tượng khảo sát, điều này khiến phạm vi nghiên cứu được cụ thể hơn, xác định được đối tượng cung cấp thông tin.
Tuy nhiên có những đề tài nội dung lại liên quan đến nhiều đối tượng, khi đó không nhất thiết đối tượng được phản ánh trong tên đề tài - Nên cần thiết giới hạn không gian và thời gian nghiên cứu (phạm vi) 1. Xác định mục đích, nhiệm vụ của cuộc điều tra Mục tiêu nghiên cứu là các vấn đề, là những cái đích mà cuộc nghiên cứu hướng đến để làm rõ nghĩa. Việc xác định mục tiêu nghiên cứu cần căn cứ vào hàng loạt các vấn đề do chính yêu cầu của công trình nghiên cứu đặt ra, cũng như cần căn cứ vào những vấn đề mà tác giả nghiên cứu cần phải làm sáng tỏ khi quyết định lựa chọn đề tài đó. Hơn nữa, để xác định được đầy đủ các mục tiêu, tác giả nghiên cứu cũng cần phải có một kiến tức đầy đủ, một sự am hiểu nhất định về vấn đề nghiên cứu ở cả mặt lý luận lẫn kinh nghiệm thực tế.
Như vậy, mục tiêu nghiên cứu là sự giải thích thêm cho đề tài, là sự cụ thể hóa của đề tài. Nhờ có mục tiêu, chúng ta có thể loại bỏ đi những yếu tố được xác định trong đề tài và ở một chừng mực nào đó, mục tiêu được xem xét như tiêu chuẩn cho đề tài. Đề tài sẽ đầy đủ và chính xác khi nó phù hợp với mục tiêu nghiên cứu. Mỗi một đề tài có thể có mục tiêu cơ bản và các mục tiêu cụ thể.
Mục tiêu cơ bản của đề tài bao giờ cũng hướng đến giải quyết vấn đề trug tâm xuyên suốt đề tài. Các mục tiêu cụ thể được xác định dựa trên mục tiêu cơ bản đó. Mục tiêu cụ thể hướng đến giải quyết những yếu tố, những công việc cụ thể và được coi như thành phần của mục tiêu cơ bản. Việc giải quyết các mục tiêu cụ thể sẽ giúp cho việc giải quyết mục tiêu cơ bản.
Vì vậy, việc xác định mucjtieeu cụ thể được dựa trên cơ sở xây dựng “cây mục tiêu” như bất kỳ một nghiên cứu khoa học nào. 21 Việc trình bày đề tài và mục tiêu nghiên cứu của công trình nghiên cứu xã hội học đã nhấn mạnh một cách đầy đủ và rõ ràng những vấn đề cần làm được sáng tỏ. Một công việc quan trọng nữa ở đây là đưa ra được các dự báo về kết quả mong đợi có vai trò như tiền đề cho việc hoàn thành các công việc xây dựng chương trình nghiên cứu. Xây dựng giả thuyết nghiên cứu Một cuộc điều tra xã hội học nhất thiết phải xây dựng giả thuyết nghiên cứu; giả thuyết là sự giả định về thực trạng và mối liên hệ của vấn đề cần nghiên cứu.
Nó là sự khẳng định chủ quan của người nghiên cứu. Đối với một công trình nghiên cứu khoa học, giải thuyết có vai trò hết sức to lớn, nó là cơ sở, là khởi điểm của một công trình nghiên cứu, đồng thời nó cũng có vai trò định hướng cho công trình nghiên cứu đó. Khi một giả thuyết nghiên cứu khoa học được kiểm chứng, được khẳng định thì nó sẽ là cơ sở lý luận giúp ta nhận thức sâu hơn về bản chất của đối tượng nghiên cứu. Giả thuyết giúp cho người nghiên cứu tìm ra những dữ kiện có liên quan đến đề tài để sau đó thu thập thông tin.
Kết quả nghiên cứu sẽ khẳng định hoặc bác bỏ nhận định chủ quan của người nghiên cứu. Xây dựng giả thuyết là việc đưa ra nhận thức sơ bộ về vấn đề nghiên cứu. Nó thể hiện một cách tổng quát những hiểu biết của tác giả về đối tượng, về cơ cấu và những quy luật hiện có, đang hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu. Như vậy, giả thuyết nêu ra có tính khoa học, trước hết tác giả nghiên cứu cần có những tri thức nhất định kể cả ở mặt lý luận và thực tế về đối tượng và khách thể nghiên cứu.
Để xây dựng giả thuyết phù hợp cần căn cứ vào thực tế xã hội và hướng tiếp cận phân tích. Các giả thuyết có thể phân thành 3 nhóm: Giả thuyết mô tả; giả thuyết nguyên nhân và giả thuyết xu hướng. Khi các giả thuyết đã hình thành, đối với nhà nghiên cứu việc cần phải làm tiếp theo là tìm cách để làm sáng tỏ chúng. Nghĩa là phải làm rõ chúng sẽ được 22 kiểm định thông qua những số liệu nào? Việc đo lường được thực hiện thông qua biến số nào? Các biến số phải lien quan với nhau như thế nào? Để xây dựng các giả thuyết phù hợp có tính khoa học thì tác giả nghiên cứu cần có sự hiểu biết về đối tượng nghiên cứu cũng như về những cơ cấu, quy luật đang hoạt động trong lĩnh vực đó.
Xây dựng mô hình lý luận, thao tác hoá khái niệm Tiếp theo việc xác định vấn đề, xây dựng giả thuyết nhà nghiên cứu tiếp tục xây dựng mô hình lý luận (khung khái niệm) để có cái nhìn tổng quan về vấn đề nghiên cứu. Mô hình lý luận giúp chúng ta khái quát vấn đề, đưa ra các lý giải có tính khoa học. Nó là khuôn mẫu để sắp xếp các dữ liệu rời rạc thành một chỉnh thể thống nhất. Kết quả của cuộc điều tra sẽ phụ thuộc rất lớn vào giai đoạn xây dựng mô hình lý luận: logic, khoa học đầy đủ là tiền đề để có một cuộc điểu tra tốt.
Quá trình xây dựng giả thuyết và mô hình lý luận thường phát sinh các khái niệm khoa học. Đó là những biểu hiện mang tính khái quát bản chất của vấn đề, tình huống, những hành động cá biệt thường xuyên xảy ra trong đời sống xã hội. Các khái niệm có thể đơn giản hoặc phức tạp. Các khái niệm phức tạp thường dẫn đến cách hiểu ở mỗi người là khác nhau, khó có thể đo lường.
Do đó cần thiết phải chuyển thành các khái niệm đơn giản hơn để có cùng cách hiểu. Quá trình chuyển các khái niệm phức tạp thành các khái niệm đơn giản được gọi là thao tác hóa khái niệm (oprationalization). Quá trình này lần lượt phân chia, cụ thể hóa các khái niệm và được thực hiện tiếp tục cho đến khi các khái niệm trừu tượng chuyển thành những đặc tính gọi là các chỉ báo thực nghiệm có thể đo lường được.