Chương I. Những yếu tố chính tác động đến sự điều chỉnh chính sách của Mỹ đối với Đông Nam Á thập niên đầu thế kỷ XXI. Yếu tố chủ quan (từ phía Mỹ, đặc biệt là từ sự điều chỉnh Chiến lược Toàn cầu mới của Mỹ sau sự kiện 11/9). Yếu tố khách quan (chủ yếu là sự thay đổi môi trường địa chính trị thế giới, đặc biệt là sự nổi lên của Trung Quốc, phát triển nhanh chóng của Ấn Độ, gia tăng sức ép của toàn cầu hoá và liên kết khu vực, sự bùng nổ khủng 7 Sự điều chỉnh chính sách của Mỹ đối với Đông Nam Á thập niên đầu thế kỷ XXI — Nguyễn Thu Thủy TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bố bạo lực và ly khai dân tộc cùng với sự nổi lên của các vấn đề an ninh phi truyền thống).
Chương II. Sự điều chỉnh chính sách của Mỹ đối với Đông Nam Á thập niên đầu thế kỷ XXI. Khái quát về chính sách của Mỹ đối với Đông Nam Á thập niên đầu sau khi chiến tranh lạnh kết thúc (thập niên 90 của thế kỷ XX) 2. Đông Nam Á trong chính sách của Mỹ dưới thời chiến tranh lạnh.
Sự thay đổi chính sách của Mỹ đối với Đông Nam Á trong thập niên 90. Các lĩnh vực điều chỉnh trong chính sách của Mỹ đối với Đông Nam Á thập niên đầu thế kỷ XXI. Trong lĩnh vực an ninh - quân sự 2. Trong lĩnh vực chính trị - ngoại giao, dân chủ và nhân quyền.
Trong lĩnh vực kinh tế và hỗ trợ phát triển. Chương III. Triển vọng chính sách của Mỹ đối với Đông Nam Á và quan hệ Mỹ-Việt. Thách thức 3.
Triển vọng quan hệ Mỹ-Việt CHƢƠNG I: NHỮNG YẾU TỐ CHÍNH TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH CỦA MỸ ĐỐI VỚI ĐÔNG NAM Á THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỶ XXI. Yếu tố chủ quan 8 Sự điều chỉnh chính sách của Mỹ đối với Đông Nam Á thập niên đầu thế kỷ XXI — Nguyễn Thu Thủy TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Có thể nói không có một quốc gia nào trên thế giới lại thường xuyên điều chỉnh chiến lược quốc gia như Mỹ. Thực chất của việc này là điều chỉnh chính sách đối nội và đối ngoại để phù hợp với tình hình quốc tế luôn biến động và quan trọng hơn là để tiếp tục duy trì thế độc quyền siêu cường của Mỹ trên mọi lĩnh vực. Chính sách đối nội và đối ngoại của Mỹ được hoạch định nhằm đảm bảo vai trò “lãnh đạo thế giới”, và mục tiêu này được duy trì xuyên suốt qua các đời tổng thống.
Trong nhiệm kỳ của Tổng thống G.Bush thì chủ nghĩa đơn phương đã lên đến đỉnh cao, nổi bật với cuộc chiến tranh Iraq năm 2003, khi đó Mỹ tự quyết định và tiến hành chiến tranh, bất chấp sự phản đối Liên Hợp Quốc. Và trong nhiệm kỳ 2 (2004-2008), địa bàn trọng điểm chiến lược cuả Mỹ đã chuyển từ lục địa Á-Âu (Châu Âu) sang Trung Đông, Đông Á và Nam Á. Sau khi lên cầm quyền, đặc biệt là sau sự kiện 11/9, chính quyền tổng thống Bush đã đề ra chiến lược toàn cầu mới, thể hiện trong ba bản báo cáo quan trọng: Đánh giá Quốc phòng 4 năm (ngày 30/9/2001); Đánh giá tình hình hạt nhân (ngày 8/1/2002) và Chiến lược an ninh quốc gia (20/9/2002), với nội dung là vẫn tiếp tục mục tiêu duy trì vị thế bá quyền của Mỹ dựa trên sức mạnh về quân sự; phát huy chủ nghĩa đơn phương để có thể tự do hành động; ưu tiên số một cho chính sách chống khủng bố; thúc đẩy tăng trưởng kinh tế toàn cầu; thực thi thương mại tự do và dân chủ bằng những biện pháp có hiệu quả hơn. Chiến lược toàn cầu của một quốc gia được xây dựng dựa trên nhiều yếu tố như tiềm lực về kinh tế, quân sự, văn hoá, khoa học - công nghệ… Nói cách khác là nó còn thể hiện vị thế của quốc gia đó trên trường quốc tế.
Một trong những nguyên nhân khiến Mỹ thường xuyên thay đổi chiến lược đó là do nội lực của Mỹ mỗi thời một khác. Trên thực tế thì từ sau Chiến 9 Sự điều chỉnh chính sách của Mỹ đối với Đông Nam Á thập niên đầu thế kỷ XXI — Nguyễn Thu Thủy TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tranh lạnh kết thúc đến nay, Mỹ vẫn luôn duy trì được ưu thế vượt trội ở hầu hết tất cả các lĩnh vực làm nên sức mạnh của một quốc gia. a) Trước hết về quân sự, Mỹ là cường quốc số một về lĩnh vực này trên thế giới và có tiềm lực của vượt xa so với các quốc gia khác. Mỹ là nước duy nhất có khả năng triển khai 270.000 quân ở Châu Âu, Châu Á, Trung Cận Đông, Mỹ Latinh và Châu Phi.
Bên cạnh 1100 căn cứ quân sự ở 50 bang và Washington D., Mỹ còn có 209 căn cứ quân sự ở 35 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới. Ngoài ra, Mỹ còn sở hữu một kho vũ khí hạt nhân lớn nhất thế giới. Ngân sách cho quân sự của quốc gia này chiếm 37% chi tiêu quân sự toàn cầu trong năm 2000 và lên tới 42% năm 2002 [9, tr. Trong vài năm tới, Mỹ không có địch thủ tương xứng về sức mạnh quân sự.
b) Về kinh tế: Mặc dù nền kinh tế Mỹ bị tác động xấu sau sự kiện 11/9 nhưng trong năm 2001, GDP của Mỹ vẫn đạt khoảng 12.760 tỷ USD, chiếm khoảng 31% GDP thế giới. Nền kinh tế Mỹ chiếm tới 37% khối lượng buôn bán toàn cầu [67]. Sau một thời gian suy thoái (3/2001-1/2002), kinh tế Mỹ nhanh chóng tăng trưởng trở lại. Chính quyền tổng thống Bush đã sử dụng các biện pháp chính để đối phó kinh tế suy thoái.
Ngoài ra, do ứng dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật, nhất là công nghệ thông tin đã giúp kinh tế Mỹ sớm thoát khỏi khủng hoảng. Năm 2001 GDP Mỹ tăng 0,8%, năm 2002 tăng 1,9%, năm 2003 tăng 3%, năm 2004 là 4%, và năm 2005 là 3,5% [68]. Nền kinh tế Mỹ được nhận định sẽ tiếp tục là một siêu cường kinh tế trong vòng hai thập kỷ tới và đồng đôla Mỹ vẫn là ngoại tệ dự trữ quốc tế. Bên cạnh đó cũng phải kể đến vai trò to lớn của Mỹ trong các tổ chức quốc tế như Liên Hiệp Quốc, Ngân hàng thế giới (WB), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF)…vì mức đóng góp cho các tổ chức này.
10 Sự điều chỉnh chính sách của Mỹ đối với Đông Nam Á thập niên đầu thế kỷ XXI — Nguyễn Thu Thủy TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com c) Về khoa học công nghệ: Năm 1988, trong nhiệm kỳ Tổng thống của mình, Reagan đã ban hành luật chung cho Khoa học - Công nghệ. Trong thời kì tổng thống Clinton, ngay nhiệm kỳ đầu, ông đã cho rằng “đầu tư công nghệ là đầu tư vào tương lai của nước Mỹ”, an ninh quốc phòng và an ninh kinh tế gắn chặt với nhau. Từ đó, Mỹ điều chỉnh chính sách khoa học - công nghệ phù hợp hơn với nhu cầu phục hưng kinh tế Mỹ và tăng cường sức mạnh quân sự Mỹ trong thời kì sau Chiến tranh lạnh. Đến thời tổng thống Bush, nhất là sau vụ khủng bố 11/9, Chính phủ Mỹ cũng đã có những điều chỉnh mạnh trong chính sách khoa học, công nghệ, nhằm xây dựng quốc phòng hùng mạnh, đảm bảo an ninh Quốc gia.
Theo các thống kê, ngân sách nghiên cứu phục vụ dân dụng, phi quân sự đã tăng từ 42,25% lên 49,4% trong giai đoạn 1993-2001. Đến thời tổng thống Bush, ngân sách dành cho nghiên cứu phát triển quốc phòng tăng mạnh. Nhà nước có những chính sách nhất quán trong thời gian dài đối với một số ngành khoa học mũi nhọn như công nghệ thông tin, hàng không vũ trụ, công nghệ sinh học. Chính phủ liên bang đặc biệt hỗ trợ trong những lĩnh vực quan trọng.
Năng lực lao động của các nhà phát minh sáng chế và các chủ doanh nghiệp tiến hành hoạt động đổi mới luôn là mục tiêu hàng đầu của chính sách khoa học công nghệ. Để đảm bảo việc thực hiện tất cả các chính sách đề ra, Mỹ có một hệ thống các cơ quan Quản lý nhà nước về khoa học công nghệ rất mạnh. Với đường hướng đó, chính quyền tổng thống Bush đã dự chi cho nghiên cứu phục vụ quốc phòng năm 2002 là 52,819 tỷ USD (chiếm 52% tổng ngân sách nghiên cứu khoa học của Mỹ) và năm 2003 là 58,7 tỷ USD (chiếm 52,4%), trong khi đó năm 2001 là 46,243 tỷ USD (chiếm 50,2% - do chính quyền Clinton đề xuất) [20, tr. Có thể thấy tỷ trọng kinh phí ngân sách giành cho nghiên cứu quốc gia đã tăng lên qua các năm.
Chính quyền G.Bush còn tập trung vào 11 Sự điều chỉnh chính sách của Mỹ đối với Đông Nam Á thập niên đầu thế kỷ XXI — Nguyễn Thu Thủy TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phát triển công nghệ quốc phòng, nhiều dự án nghiên cứu phòng thủ tiên tiến được đề ra và thực hiện (các hệ thống máy tính, công nghệ vũ trụ, hệ thống cảm biến và dẫn đường…). Ngoài ra, khoa học - công nghệ dân sự cũng rất được chú trọng phát triển và đầu tư, đặc biệt trong lĩnh vực năng lượng và môi trường, công nghệ thông tin và hệ thống mạng. Ngân sách dành cho chương trình này năm 2003 là gần 2 tỷ USD (tăng 3% so với năm 2002).38] d) Một yếu tố nữa cần phải kể đến đó là yếu tố văn hoá. Văn hoá Mỹ tồn tại ở những thứ rất nhỏ như Coca Cola, nhạc nhẹ, quần bò, hãng tin CNN, đến những cái lớn như lối sống, quan niệm giá trị, kỹ thuật, giáo dục, chế độ xã hội Mỹ.
Tại nhiều nước, phim ảnh Mỹ chiếm thị phần lớn nhất, tới ba phần tư thị trường thế giới. Trong năm 2001, 81,3% phim trên toàn thế giới do Mỹ tài trợ hoặc sản xuất tại nước Mỹ [14, tr. Một nhà văn Pháp đã từng phát biểu, chỉ với chiếc quần jeans và nhạc jazz, nước Mỹ có mặt ở khắp nơi trên thế giới. Cùng với sự phát triển của toàn cầu hoá kinh tế, tốc độ truyền bá những mặt trên sang các nước khác tăng nhanh, nhất là trong lớp thanh niên.
Người ta gọi đó là “sức mạnh mềm” của Mỹ. Cùng với sức mạnh về kinh tế, Mỹ vẫn đang tiếp tục truyền bá những quan niệm giá trị của Mỹ ra toàn thế giới, lấy đó làm đòn bẩy quan trọng để thiết lập thế giới đơn cực. Sau sự kiện 11/9/2001, Mỹ đẩy mạnh quá trình điều chỉnh chiến lược cho thể kỷ XXI, coi chống khủng bố là ưu tiên cao nhất. Chống khủng bố được sử dụng để tập hợp lực lượng nhằm thiết lập thế giới mới do Mỹ lãnh đạo, dùng lý do chống khủng bố, Mỹ thực hiện biện pháp quân sự “đánh phủ đầu” Afghanistan và Iraq.