Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về tính tích cực tham gia hoạt động xã hội Chương 2: Cơ sở lý luận về tính tích cực và tính tích cực tham gia các hoạt động xã hội của người lao động ở một số khu công nghiệp Chương 3: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực tiễn tính tích cực tham gia các hoạt động xã hội của người lao động ở một số khu công nghiệp và các tỉnh phía Bắc 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ TÍNH TÍCH CỰC THAM GIA CÁC HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI 1. Nghiên cứu về bản chất của tính tích cực ở trên thế giới và ở Việt Nam Tính tích cực từ lâu đã được các ngành khoa học quan tâm. Trong đó phải kể đến ngành sinh học, triết học, chính trị học, xã hội học, kinh tế học, khoa học quản lý và đặc biệt là tâm lý học. Trong tâm lý học, những vấn đề về bản chất của tính tích cực đang có nhiều quan điểm khác nhau.
Theo các nhà tâm lý học hành vi Watson, A. Skinner (1976) bản chất của hành vi là phản ứng của cơ thể đáp ứng lại tác động của môi trường. Với công thức nổi tiếng S-->R của Watson thì tính chất của kích thích là cái thúc đẩy tính tích cực hành động của con người. Bandura khi giải thích hành vi con người cho rằng, việc thực hiện một hành vi nào đó không chỉ vì cái chúng ta nhận được, mà còn trên cơ sở nhận thức, đánh giá về hậu quả của việc thực hiện hành vi [59].
Skinner, đưa ra khái niệm hành vi tạo tác để mô tả hành vi của con người. Theo ông, hành vi tạo tác là một kiểu hành vi có liên quan đến một kiểu học tập. Mỗi hành vi chịu sự tác động chủ yếu bởi những kết quả sau đó và của sự thay đổi môi trường và có 3 loại hành vi tạo tác: củng cố, phần thưởng và sự trừng phạt, hành vi mang tính chủ định.Tính tích cực của con người sẽ tăng lên khi tăng cường những hành vi củng cố tích cực như cho thêm giá trị, khen ngợi sau mỗi lần thực hiện hành vi. [94] Thuyết phân tâm học S.
Erikson, Fromm cho rằng, bản năng, mà đặc biệt là bản năng tình dục (trong mô hình của Freud), những “sự lo lắng cơ bản” (Horney), “hướng tới yêu thương” (Fromm), “hướng tới thành công, sự độc đáo, quyền lực, hoàn thiện” (Adler) là những kích thích của tính tích cực hoạt động của con người. Họ quan niệm những cái liên quan đến động lực thúc đẩy con người hoạt động là những cái nằm trong bản thân mỗi người, những cái được di truyền [dẫn theo 4] 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tâm lý học nhân văn C. Maslow (1987) cho rằng, mô hình tính tích cực được thể hiện ở “Nhu cầu - tính tích cực”. Điều này có nghĩa rằng, mong muốn của con người hiện thực hóa nhu cầu của mình trong cuộc sống, trong đó nhu cầu tự hiện thực hóa - nhu cầu cao nhất của con người - là nguồn gốc của tính tích cực, C.
Rogers cho rằng, điều thúc đẩy con người ta hoạt động xuất phát từ những nguồn lực bên trong như nhu cầu tự hiện thực hóa, khuynh hướng hiện thực hoá bẩm sinh hoặc nhu cầu tự khẳng định. Những sức mạnh này là bẩm sinh nhằm hiện thực hoá tiềm năng của họ, làm cho họ trưởng thành, trở thành con người tốt hơn, với đầy đủ chức năng. Maslow chỉ ra 5 loại nhu cầu cơ bản của con người: nhu cầu sinh lý; nhu cầu an toàn; nhu cầu được chấp nhận và yêu thương; nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu tự thể hiện bản thân. Theo ông, cái thúc đẩy con người hoạt động chính là việc thỏa mãn các nhu cầu của họ [105].
Trong tâm lý học hoạt động, tính tích cực hoạt động của con người đã được đề cập trong nhiều công trình nghiên cứu, đặc biệt là các công trình của M. Trong công trình của M. Basov, con người đóng vai trò như một nhân vật tích cực trong môi trường.Vưgôtxki xem xét ảnh hưởng của kinh nghiệm lịch sử nhân loại, nằm trong các dấu hiệu đến sự hình thành tính tích cực của con người. Rubinstein xây dựng các nguyên tắc về sự thống nhất của ý thức và hoạt động.
Ông đã xem xét hoạt động như một hình thức đặc trưng trong tính tích cực của con người. Trong lý thuyết tâm thế, Uznadze đã dựa trên việc xem xét sự phát triển của tâm thế của chủ thế để phân tích các quy luật của tính tích cực tâm lý [4] Các tác giả L.Ivasco đã đưa ra các nguyên tắc khi nghiên cứu về tính tích cực như sau: Không nên giải thích phiến diện hay chỉ xem xét tính tích cực duy nhất là trạng thái hoạt động, không được tách rời mặt bên trong của tính tích cực với biểu hiện ra bên ngoài. Sự phát triển của tính tích cực có thể được biểu hiện bằng các đặc trưng số lượng, chất lượng của hoạt động [40] A. Abulhanova - Slavskaya mô tả con người như là tác giả và người tổ chức các hoạt động cụ thể bằng những thuật ngữ “chủ thể” và “tính 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chủ thể”.
Chủ thể là con người của hoạt động, giao tiếp, tính toàn vẹn, tính tự chủ ở cấp độ cao nhất. Tính chủ thể là thuộc tính nhân cách và làm cho nhân cách trở thành chủ thể. Theo Bandura cho rằng cá nhân không phải là một chủ thể tự động, cũng không chỉ đơn thuần là chủ thể máy móc chịu ảnh hưởng một chiều của môi trường mà ở đó cá nhân đóng góp bằng mối quan hệ hai chiều. Tính chủ thể thông qua quá trình tư duy và sự tự điều chỉnh có tác động đến sự lựa chọn và duy trì tiến trình hoạt động.
Trong cùng một môi trường như nhau, những người có nhiều kỹ năng thực hiện hoạt động có nhiều lựa chọn và thích nghi bằng việc điều chỉnh động cơ và hành vi của mình hơn những người có tính chủ thể thấp. Tính chủ thể được thể hiện qua tính có ý định, tính lựa chọn, tính đắn đo trước khi làm, tính tự điều chỉnh và tính tự suy ngẫm rút ra bài học. Con người có đạo đức xã hội mạnh mẽ sẽ hành động tích cực để tăng thêm phúc lợi cho người khác ngay cả sự ảnh hưởng đến chi phí của cá nhân họ [59] A. Leontiev (1976) đã đưa ra khái niệm hoạt động và coi tính tích cực là một đặc điểm của hoạt động.
Hoạt động là quá trình chuyển đổi lẫn nhau giữa các chủ thể và đối tượng. Còn tính tích cực cho phép mô tả chủ thể trong quá trình này, nghĩa là những khoảnh khắc diễn ra sự phát triển hoạt động và nảy sinh chủ thể của hoạt động. Theo ông, chủ thể sinh ra tính tích cực theo cách thức: bên trong (chủ thể) ảnh hưởng tương tác thông qua bên ngoài và bằng sự tương tác này bên trong tự thay đổi [33] Carrol trong tác phẩm “Những cảm xúc của người” đã công bố về công trình nghiên cứu về hệ thống thái độ của con người - thành phần không thể thiếu tính tích cực của con người, bởi “những cảm xúc tạo nên hệ thống động cơ chính của con người” [5]. Cook & Rice, 2003; Homans, 1961, Lawler & Thye, 1999; Thibaut & Kelley, (1959) cho rằng hành vi tích cực của con người là xuất phát từ khát vọng tối đa hóa lợi ích và giảm thiểu chi phí [59] Các nhà tâm lý học Việt Nam như Phạm Minh Hạc, Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Kế Hào, đều coi nhân cách là chủ thể có ý thức.
Tính tích cực là một thuộc tính của nhân cách được biểu hiện trước tiên ở việc xác định một cách tự giác 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mục đích hoạt động tiếp đó là sự chủ động, tự giác thực hiện các hoạt động, giao tiếp nhằm hiện thực hóa mục đích. Ở đây nhân cách bộc lộ khả năng tự điều chỉnh và chịu sự điều chỉnh của xã hội. Đây cũng là biểu hiện tích cực của nhân cách giá trị đích thực của nhân cách, chức năng xã hội và cốt cách làm người của cá nhân thể hiện rõ nét tích cực của nhân cách.[50] Tác giả Nguyễn nh Tuyết đã chỉ ra mối liên hệ giữa tính tích cực với hoạt động của con người. Tác giả cho rằng; “Hoạt động bao giờ cũng do chủ thể tiến hành.
Tính chủ thể bao hàm trước hết là tính tích cực. Tính tích cực phát triển đến đỉnh cao thành tính chủ động, say mê, nhiệt tình. Con người là chủ thể hoạt động, con người càng hoạt động tính chủ thể càng phát triển cao và do đó con người sẽ dần hoàn thiện”. [40] Theo tác giả Nguyễn Ngọc Bảo “Tính tích cực nhận thức là thái độ cải tạo của chủ thể đối với khách thể thông qua sự huy động ở mức độ cao của các chức năng tâm lý nhằm giải quyết những vấn đề nhận thức.
Nó vừa là mục đích học tập, vừa là phương tiện vừa là điều kiện để đạt mục đích, vừa là kết quả học tập. Nó là sản phẩm hoạt động cá nhân” [2]. Như vậy, qua các quan điểm của các tác giả trong và ngoài nước có thể rút ra kết luận về bản chất của tính tích cực như sau: Tính tích cực là thái độ của con người đối với hiện thực. Tính tích cực dựa trên cơ sở nhận thức, dựa trên những hành vi củng cố tích cực, tính tích cực nằm ở bên trong của mỗi cá nhân, tính tích cực gắn với nhu cầu.
Hoạt động là hình thức đặc trưng của tính tích cực. Tính tích cực được biểu hiện đặc trưng về số lượng và chất lượng hoạt động. Tính chủ thể chính là tính tích cực và được thể hiện ở tính có ý định, tính lựa chọn, tính đắn đo, tính tự điều chỉnh và rút ra bài học của bản thân. Tính tích cực xuất phát từ khát vọng tối đa hóa lợi ích và giảm thiểu chi phí của con người.
Nghiên cứu về tính tích cực trong hoạt động lao động, nghề nghiệp Theo các lý thuyết kinh điển về quản lý F. Taylor đã cho rằng, cùng với việc thay đổi quy trình lao động, cần quan tâm đến các khuyến khích vật chất để làm tăng hiệu quả làm việc của người lao động. Để phát huy tính tích cực của người lao động, các nhà quản lý cần quan tâm tới việc giải quyết mối quan hệ giữa người 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.