Luận án tiến sĩ tính tích cực tham gia các hoạt động xã hội của người lao động tại một số khu công nghiệp các tỉnh phía bắc

Nghiên cứu luận án tiến sĩ về tính tích cực tham gia hoạt động xã hội của người lao động tại các khu công nghiệp phía Bắc Việt Nam

Chuyên ngành

Tâm lý học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2019

194
7
1

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ TÍNH TÍCH CỰC THAM GIA CÁC HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI

1.1. Nghiên cứu về bản chất của tính tích cực ở trên thế giới và ở Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍNH TÍCH CỰC THAM GIA CÁC HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG Ở MỘT SỐ KHU CÔNG NGHIỆP

3. CHƯƠNG 3: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN TÍNH TÍCH CỰC THAM GIA CÁC HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG Ở MỘT SỐ KHU CÔNG NGHIỆP CÁC TỈNH PHÍA BẮC

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu tổng quan về tính tích cực tham gia hoạt động xã hội của người lao động khu công nghiệp phía Bắc

Tính tích cực tham gia hoạt động xã hội của người lao động khu công nghiệp phía Bắc là một chủ đề nghiên cứu quan trọng, phản ánh mức độ gắn kết và trách nhiệm xã hội của người lao động trong môi trường công nghiệp hiện đại. Hoạt động xã hội không chỉ giúp người lao động phát triển kỹ năng xã hội mà còn góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, tạo sự đoàn kết trong tập thể. Tuy nhiên, đặc điểm của người lao động khu công nghiệp phía Bắc như trình độ học vấn thấp, áp lực công việc cao, điều kiện sống còn nhiều khó khăn đã ảnh hưởng đến mức độ tích cực tham gia hoạt động xã hội của họ. Việc nghiên cứu này nhằm làm rõ thực trạng, các biểu hiện và yếu tố ảnh hưởng đến tính tích cực tham gia hoạt động xã hội, từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp để nâng cao hiệu quả hoạt động xã hội trong khu công nghiệp.

1.1. Khái niệm và vai trò của tính tích cực tham gia hoạt động xã hội

Tính tích cực tham gia hoạt động xã hội được hiểu là sự chủ động, tự giác và nỗ lực của cá nhân trong việc tham gia các hoạt động xã hội nhằm mang lại lợi ích cho bản thân, tập thể và cộng đồng. Đây là biểu hiện của phẩm chất tâm lý quan trọng, giúp người lao động phát triển kỹ năng giao tiếp, tăng cường mối quan hệ xã hội và nâng cao trách nhiệm công dân. Theo nghiên cứu, tính tích cực này còn giúp cải thiện sức khỏe tinh thần, tăng sự hài lòng trong cuộc sống và giảm các hành vi tiêu cực.

1.2. Đặc điểm người lao động khu công nghiệp phía Bắc ảnh hưởng đến tính tích cực

Người lao động trong các khu công nghiệp phía Bắc đa phần là lao động trẻ, trình độ học vấn thấp, chịu áp lực công việc lớn và điều kiện sống còn nhiều khó khăn. Những yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống tinh thần và thái độ tham gia các hoạt động xã hội. Nhiều người lao động có xu hướng thụ động, ít quan tâm đến các hoạt động tập thể, dễ bị lôi kéo vào các hoạt động xã hội không lành mạnh. Do đó, việc hiểu rõ đặc điểm này là cơ sở để xây dựng các giải pháp nâng cao tính tích cực tham gia hoạt động xã hội.

II. Phân tích các thách thức ảnh hưởng đến tính tích cực tham gia hoạt động xã hội của người lao động khu công nghiệp phía Bắc

Việc phát huy tính tích cực tham gia hoạt động xã hội của người lao động khu công nghiệp phía Bắc đang gặp nhiều thách thức. Các yếu tố như điều kiện làm việc căng thẳng, thu nhập thấp, thời gian nghỉ ngơi hạn chế, cùng với sự thiếu hụt về nhận thức và động lực xã hội đã làm giảm sự chủ động và nhiệt tình tham gia của người lao động. Ngoài ra, cách thức tổ chức hoạt động xã hội chưa phù hợp cũng là nguyên nhân khiến nhiều người lao động cảm thấy thụ động hoặc không hài lòng khi tham gia.

2.1. Ảnh hưởng của điều kiện làm việc và thu nhập đến tính tích cực tham gia hoạt động xã hội

Điều kiện làm việc căng thẳng, áp lực công việc cao và thu nhập thấp là những yếu tố khách quan ảnh hưởng mạnh mẽ đến động lực tham gia hoạt động xã hội của người lao động. Khi người lao động phải dành phần lớn thời gian và sức lực cho công việc chính, họ thường không còn đủ thời gian và năng lượng để tham gia các hoạt động xã hội. Điều này dẫn đến sự thụ động và giảm tính tích cực trong các hoạt động tập thể.

2.2. Thách thức từ nhận thức và động lực cá nhân trong tham gia hoạt động xã hội

Nhiều người lao động chưa nhận thức đầy đủ về lợi ích và ý nghĩa của việc tham gia hoạt động xã hội, dẫn đến sự thiếu tự giác và chủ động. Động lực tham gia còn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như tính trách nhiệm xã hội, nhu cầu giao tiếp, sự quan tâm làm việc thiện và các động cơ cá nhân khác. Thiếu sự khích lệ và hỗ trợ từ tổ chức cũng làm giảm sự hứng thú và kiên trì tham gia của người lao động.

2.3. Vấn đề tổ chức và quản lý hoạt động xã hội trong khu công nghiệp

Cách thức tổ chức các hoạt động xã hội chưa đa dạng, chưa phù hợp với đặc điểm nghề nghiệp và tâm lý người lao động là một trong những nguyên nhân khiến tính tích cực tham gia bị hạn chế. Thời gian tổ chức không hợp lý, nội dung hoạt động chưa hấp dẫn và thiếu sự tuyên truyền, vận động hiệu quả cũng làm giảm sự tham gia tích cực của người lao động.

III. Phương pháp nâng cao tính tích cực tham gia hoạt động xã hội của người lao động khu công nghiệp phía Bắc

Để phát huy tính tích cực tham gia hoạt động xã hội của người lao động, cần áp dụng các phương pháp đồng bộ, kết hợp giữa nâng cao nhận thức, cải thiện điều kiện làm việc và đổi mới cách thức tổ chức hoạt động xã hội. Việc tập huấn, chia sẻ về giá trị và ý nghĩa của hoạt động xã hội, cùng với sự hỗ trợ từ tổ chức công đoàn và lãnh đạo doanh nghiệp sẽ tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy người lao động tham gia tích cực hơn.

3.1. Tập huấn và nâng cao nhận thức về lợi ích hoạt động xã hội cho người lao động

Tổ chức các lớp tập huấn, hội thảo nhằm nâng cao nhận thức cho người lao động về ý nghĩa và lợi ích của việc tham gia hoạt động xã hội. Qua đó, người lao động sẽ hiểu rõ hơn về vai trò của mình trong cộng đồng, từ đó tăng tính tự giác và chủ động tham gia. Việc truyền thông cần được thực hiện liên tục, đa dạng hình thức để phù hợp với đặc điểm người lao động.

3.2. Cải thiện điều kiện làm việc và chính sách hỗ trợ để tăng động lực tham gia

Cải thiện điều kiện làm việc, đảm bảo thu nhập ổn định và thời gian nghỉ ngơi hợp lý sẽ giúp người lao động có thêm năng lượng và thời gian để tham gia các hoạt động xã hội. Đồng thời, xây dựng các chính sách khuyến khích, khen thưởng cho những cá nhân tích cực tham gia sẽ tạo động lực thúc đẩy sự tham gia rộng rãi và bền vững.

3.3. Đổi mới cách thức tổ chức hoạt động xã hội phù hợp với đặc điểm người lao động

Đa dạng hóa hình thức và nội dung hoạt động xã hội, tổ chức vào thời gian phù hợp để thu hút người lao động tham gia. Tăng cường vai trò của cán bộ công đoàn trong việc tuyên truyền, vận động và tổ chức các hoạt động có tính sáng tạo, hấp dẫn, phù hợp với nhu cầu và sở thích của người lao động. Đồng thời, tạo môi trường giao lưu, hỗ trợ lẫn nhau để tăng sự gắn kết trong tập thể.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về tính tích cực tham gia hoạt động xã hội của người lao động khu công nghiệp phía Bắc

Nghiên cứu thực tiễn tại một số khu công nghiệp phía Bắc cho thấy tính tích cực tham gia hoạt động xã hội của người lao động chỉ đạt mức trung bình. Các biểu hiện tích cực như nhận thức về lợi ích, sự sẵn sàng chủ động và hành động kiên trì, nỗ lực vượt khó còn hạn chế. Tuy nhiên, khi áp dụng các biện pháp tâm lý xã hội như tập huấn, tuyên truyền và cải thiện điều kiện làm việc, tính tích cực của người lao động đã được nâng lên rõ rệt. Kết quả này khẳng định vai trò quan trọng của các giải pháp đồng bộ trong việc thúc đẩy sự tham gia tích cực của người lao động.

4.1. Thực trạng tính tích cực tham gia hoạt động xã hội của người lao động khu công nghiệp phía Bắc

Qua khảo sát 550 người lao động tại 6 công ty trong các khu công nghiệp phía Bắc, kết quả cho thấy mức độ nhận thức về lợi ích hoạt động xã hội còn thấp, nhiều người lao động chưa chủ động tham gia và thiếu kiên trì trong các hoạt động. Sự thụ động và thiếu động lực là những điểm hạn chế chính ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động xã hội.

4.2. Kết quả thử nghiệm các biện pháp nâng cao tính tích cực tham gia hoạt động xã hội

Thực nghiệm tại công ty TNHH Đỉnh Vàng - Hải Phòng với các biện pháp tập huấn, chia sẻ giá trị và cải thiện điều kiện làm việc đã giúp tăng đáng kể sự nhận thức, sự chủ động và hành động kiên trì của người lao động khi tham gia hoạt động xã hội. Các chỉ số về sự hài lòng và mong muốn tiếp tục tham gia cũng được cải thiện rõ rệt, chứng minh hiệu quả của các biện pháp này.

V. Kết luận và định hướng phát triển tính tích cực tham gia hoạt động xã hội của người lao động khu công nghiệp phía Bắc trong tương lai

Tính tích cực tham gia hoạt động xã hội của người lao động khu công nghiệp phía Bắc là yếu tố then chốt góp phần xây dựng môi trường làm việc lành mạnh, phát triển bền vững doanh nghiệp và cộng đồng. Nghiên cứu đã chỉ ra thực trạng chưa cao của tính tích cực này và các yếu tố ảnh hưởng chủ yếu. Để phát huy tính tích cực, cần tiếp tục triển khai các giải pháp nâng cao nhận thức, cải thiện điều kiện làm việc và đổi mới cách thức tổ chức hoạt động xã hội. Đồng thời, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa doanh nghiệp, tổ chức công đoàn và các cơ quan liên quan để tạo môi trường thuận lợi, thúc đẩy sự tham gia tích cực và bền vững của người lao động.

5.1. Tóm tắt kết quả nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn

Nghiên cứu đã làm rõ các biểu hiện của tính tích cực tham gia hoạt động xã hội gồm nhận thức, sự sẵn sàng chủ động và hành động kiên trì, nỗ lực vượt khó. Đồng thời, xác định các yếu tố ảnh hưởng như điều kiện làm việc, động lực cá nhân và cách thức tổ chức hoạt động. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng chính sách và biện pháp nâng cao tính tích cực của người lao động, góp phần phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong khu công nghiệp.

5.2. Định hướng phát triển và đề xuất giải pháp trong tương lai

Trong tương lai, cần tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về vai trò của hoạt động xã hội. Cải thiện điều kiện làm việc và chính sách đãi ngộ để tạo động lực cho người lao động. Đổi mới hình thức tổ chức hoạt động xã hội phù hợp với đặc điểm người lao động, tăng cường vai trò của tổ chức công đoàn và lãnh đạo doanh nghiệp. Đồng thời, nghiên cứu sâu hơn về các yếu tố tâm lý xã hội để xây dựng các chương trình hỗ trợ hiệu quả, góp phần nâng cao tính tích cực tham gia hoạt động xã hội một cách bền vững.

02/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về tính tích cực tham gia hoạt động xã hội Chương 2: Cơ sở lý luận về tính tích cực và tính tích cực tham gia các hoạt động xã hội của người lao động ở một số khu công nghiệp Chương 3: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực tiễn tính tích cực tham gia các hoạt động xã hội của người lao động ở một số khu công nghiệp và các tỉnh phía Bắc 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ TÍNH TÍCH CỰC THAM GIA CÁC HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI 1. Nghiên cứu về bản chất của tính tích cực ở trên thế giới và ở Việt Nam Tính tích cực từ lâu đã được các ngành khoa học quan tâm. Trong đó phải kể đến ngành sinh học, triết học, chính trị học, xã hội học, kinh tế học, khoa học quản lý và đặc biệt là tâm lý học. Trong tâm lý học, những vấn đề về bản chất của tính tích cực đang có nhiều quan điểm khác nhau.

Theo các nhà tâm lý học hành vi Watson, A. Skinner (1976) bản chất của hành vi là phản ứng của cơ thể đáp ứng lại tác động của môi trường. Với công thức nổi tiếng S-->R của Watson thì tính chất của kích thích là cái thúc đẩy tính tích cực hành động của con người. Bandura khi giải thích hành vi con người cho rằng, việc thực hiện một hành vi nào đó không chỉ vì cái chúng ta nhận được, mà còn trên cơ sở nhận thức, đánh giá về hậu quả của việc thực hiện hành vi [59].

Skinner, đưa ra khái niệm hành vi tạo tác để mô tả hành vi của con người. Theo ông, hành vi tạo tác là một kiểu hành vi có liên quan đến một kiểu học tập. Mỗi hành vi chịu sự tác động chủ yếu bởi những kết quả sau đó và của sự thay đổi môi trường và có 3 loại hành vi tạo tác: củng cố, phần thưởng và sự trừng phạt, hành vi mang tính chủ định.Tính tích cực của con người sẽ tăng lên khi tăng cường những hành vi củng cố tích cực như cho thêm giá trị, khen ngợi sau mỗi lần thực hiện hành vi. [94] Thuyết phân tâm học S.

Erikson, Fromm cho rằng, bản năng, mà đặc biệt là bản năng tình dục (trong mô hình của Freud), những “sự lo lắng cơ bản” (Horney), “hướng tới yêu thương” (Fromm), “hướng tới thành công, sự độc đáo, quyền lực, hoàn thiện” (Adler) là những kích thích của tính tích cực hoạt động của con người. Họ quan niệm những cái liên quan đến động lực thúc đẩy con người hoạt động là những cái nằm trong bản thân mỗi người, những cái được di truyền [dẫn theo 4] 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tâm lý học nhân văn C. Maslow (1987) cho rằng, mô hình tính tích cực được thể hiện ở “Nhu cầu - tính tích cực”. Điều này có nghĩa rằng, mong muốn của con người hiện thực hóa nhu cầu của mình trong cuộc sống, trong đó nhu cầu tự hiện thực hóa - nhu cầu cao nhất của con người - là nguồn gốc của tính tích cực, C.

Rogers cho rằng, điều thúc đẩy con người ta hoạt động xuất phát từ những nguồn lực bên trong như nhu cầu tự hiện thực hóa, khuynh hướng hiện thực hoá bẩm sinh hoặc nhu cầu tự khẳng định. Những sức mạnh này là bẩm sinh nhằm hiện thực hoá tiềm năng của họ, làm cho họ trưởng thành, trở thành con người tốt hơn, với đầy đủ chức năng. Maslow chỉ ra 5 loại nhu cầu cơ bản của con người: nhu cầu sinh lý; nhu cầu an toàn; nhu cầu được chấp nhận và yêu thương; nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu tự thể hiện bản thân. Theo ông, cái thúc đẩy con người hoạt động chính là việc thỏa mãn các nhu cầu của họ [105].

Trong tâm lý học hoạt động, tính tích cực hoạt động của con người đã được đề cập trong nhiều công trình nghiên cứu, đặc biệt là các công trình của M. Trong công trình của M. Basov, con người đóng vai trò như một nhân vật tích cực trong môi trường.Vưgôtxki xem xét ảnh hưởng của kinh nghiệm lịch sử nhân loại, nằm trong các dấu hiệu đến sự hình thành tính tích cực của con người. Rubinstein xây dựng các nguyên tắc về sự thống nhất của ý thức và hoạt động.

Ông đã xem xét hoạt động như một hình thức đặc trưng trong tính tích cực của con người. Trong lý thuyết tâm thế, Uznadze đã dựa trên việc xem xét sự phát triển của tâm thế của chủ thế để phân tích các quy luật của tính tích cực tâm lý [4] Các tác giả L.Ivasco đã đưa ra các nguyên tắc khi nghiên cứu về tính tích cực như sau: Không nên giải thích phiến diện hay chỉ xem xét tính tích cực duy nhất là trạng thái hoạt động, không được tách rời mặt bên trong của tính tích cực với biểu hiện ra bên ngoài. Sự phát triển của tính tích cực có thể được biểu hiện bằng các đặc trưng số lượng, chất lượng của hoạt động [40] A. Abulhanova - Slavskaya mô tả con người như là tác giả và người tổ chức các hoạt động cụ thể bằng những thuật ngữ “chủ thể” và “tính 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chủ thể”.

Chủ thể là con người của hoạt động, giao tiếp, tính toàn vẹn, tính tự chủ ở cấp độ cao nhất. Tính chủ thể là thuộc tính nhân cách và làm cho nhân cách trở thành chủ thể. Theo Bandura cho rằng cá nhân không phải là một chủ thể tự động, cũng không chỉ đơn thuần là chủ thể máy móc chịu ảnh hưởng một chiều của môi trường mà ở đó cá nhân đóng góp bằng mối quan hệ hai chiều. Tính chủ thể thông qua quá trình tư duy và sự tự điều chỉnh có tác động đến sự lựa chọn và duy trì tiến trình hoạt động.

Trong cùng một môi trường như nhau, những người có nhiều kỹ năng thực hiện hoạt động có nhiều lựa chọn và thích nghi bằng việc điều chỉnh động cơ và hành vi của mình hơn những người có tính chủ thể thấp. Tính chủ thể được thể hiện qua tính có ý định, tính lựa chọn, tính đắn đo trước khi làm, tính tự điều chỉnh và tính tự suy ngẫm rút ra bài học. Con người có đạo đức xã hội mạnh mẽ sẽ hành động tích cực để tăng thêm phúc lợi cho người khác ngay cả sự ảnh hưởng đến chi phí của cá nhân họ [59] A. Leontiev (1976) đã đưa ra khái niệm hoạt động và coi tính tích cực là một đặc điểm của hoạt động.

Hoạt động là quá trình chuyển đổi lẫn nhau giữa các chủ thể và đối tượng. Còn tính tích cực cho phép mô tả chủ thể trong quá trình này, nghĩa là những khoảnh khắc diễn ra sự phát triển hoạt động và nảy sinh chủ thể của hoạt động. Theo ông, chủ thể sinh ra tính tích cực theo cách thức: bên trong (chủ thể) ảnh hưởng tương tác thông qua bên ngoài và bằng sự tương tác này bên trong tự thay đổi [33] Carrol trong tác phẩm “Những cảm xúc của người” đã công bố về công trình nghiên cứu về hệ thống thái độ của con người - thành phần không thể thiếu tính tích cực của con người, bởi “những cảm xúc tạo nên hệ thống động cơ chính của con người” [5]. Cook & Rice, 2003; Homans, 1961, Lawler & Thye, 1999; Thibaut & Kelley, (1959) cho rằng hành vi tích cực của con người là xuất phát từ khát vọng tối đa hóa lợi ích và giảm thiểu chi phí [59] Các nhà tâm lý học Việt Nam như Phạm Minh Hạc, Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Kế Hào, đều coi nhân cách là chủ thể có ý thức.

Tính tích cực là một thuộc tính của nhân cách được biểu hiện trước tiên ở việc xác định một cách tự giác 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mục đích hoạt động tiếp đó là sự chủ động, tự giác thực hiện các hoạt động, giao tiếp nhằm hiện thực hóa mục đích. Ở đây nhân cách bộc lộ khả năng tự điều chỉnh và chịu sự điều chỉnh của xã hội. Đây cũng là biểu hiện tích cực của nhân cách giá trị đích thực của nhân cách, chức năng xã hội và cốt cách làm người của cá nhân thể hiện rõ nét tích cực của nhân cách.[50] Tác giả Nguyễn nh Tuyết đã chỉ ra mối liên hệ giữa tính tích cực với hoạt động của con người. Tác giả cho rằng; “Hoạt động bao giờ cũng do chủ thể tiến hành.

Tính chủ thể bao hàm trước hết là tính tích cực. Tính tích cực phát triển đến đỉnh cao thành tính chủ động, say mê, nhiệt tình. Con người là chủ thể hoạt động, con người càng hoạt động tính chủ thể càng phát triển cao và do đó con người sẽ dần hoàn thiện”. [40] Theo tác giả Nguyễn Ngọc Bảo “Tính tích cực nhận thức là thái độ cải tạo của chủ thể đối với khách thể thông qua sự huy động ở mức độ cao của các chức năng tâm lý nhằm giải quyết những vấn đề nhận thức.

Nó vừa là mục đích học tập, vừa là phương tiện vừa là điều kiện để đạt mục đích, vừa là kết quả học tập. Nó là sản phẩm hoạt động cá nhân” [2]. Như vậy, qua các quan điểm của các tác giả trong và ngoài nước có thể rút ra kết luận về bản chất của tính tích cực như sau: Tính tích cực là thái độ của con người đối với hiện thực. Tính tích cực dựa trên cơ sở nhận thức, dựa trên những hành vi củng cố tích cực, tính tích cực nằm ở bên trong của mỗi cá nhân, tính tích cực gắn với nhu cầu.

Hoạt động là hình thức đặc trưng của tính tích cực. Tính tích cực được biểu hiện đặc trưng về số lượng và chất lượng hoạt động. Tính chủ thể chính là tính tích cực và được thể hiện ở tính có ý định, tính lựa chọn, tính đắn đo, tính tự điều chỉnh và rút ra bài học của bản thân. Tính tích cực xuất phát từ khát vọng tối đa hóa lợi ích và giảm thiểu chi phí của con người.

Nghiên cứu về tính tích cực trong hoạt động lao động, nghề nghiệp Theo các lý thuyết kinh điển về quản lý F. Taylor đã cho rằng, cùng với việc thay đổi quy trình lao động, cần quan tâm đến các khuyến khích vật chất để làm tăng hiệu quả làm việc của người lao động. Để phát huy tính tích cực của người lao động, các nhà quản lý cần quan tâm tới việc giải quyết mối quan hệ giữa người 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ