phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục thì khóa luận gồm có 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của việc giáo dục ý thức tự lập cho học sinh lớp 2 thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp. 5 Chƣơng 2: Thực trạng của việc giáo dục ý thức tự lập cho học sinh lớp 2 thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp tại trƣờng Tiểu học Kim Đồng – thành phố Tam Kỳ. Chƣơng 3: Biện pháp giáo dục ý thức tự lập cho học sinh lớp 2 thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp tại trƣờng Tiểu học Kim Đồng – thành phố Tam Kỳ. + Phần kết luận và kiến nghị.
- Danh mục tài liệu tham khảo - Phụ lục 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC GIÁO DỤC Ý THỨC TỰ LẬP CHO HỌC SINH LỚP 2 THÔNG QUA CÁC HOẠT ĐỘNG NGOÀI GIỜ LÊN LỚP 1. Một số khái niệm có liên quan đến đề tài 1. Ý thức Ý thức là chức năng cao nhất của tâm lý. Ý thức tiếp nhận những thông tin trong môi trƣờng và thông tin về bản thân, chọn lọc và biểu thị những rung cảm tƣơng ứng, từ đó vạch ra kế hoạch hành động thích hợp và hiệu quả.
Với những đặc điểm này, ý thức đƣợc coi là khả năng nhận thức và điều khiển hành vi cao nhất của con ngƣời với thế giới. Ý thức là hình thức phản ánh tâm lý cao nhất riêng con ngƣời mới có, phản ánh bằng ngôn ngữ, là khả năng con ngƣời hiểu đƣợc các tri thức (hiểu biết) mà con ngƣời tiếp thu đƣợc. Tự lập Tự lập là tự làm lấy, tự giải quyết công việc của mình, tự lo liệu, tạo dựng cho cuộc sống của mình, không trông chờ, dựa dẫm, phụ thuộc vào ngƣời khác. Tự lập thể hiện sự tự tin, bản lĩnh cá nhân dám đƣơng đầu với những khó khăn, thử thách; ý chí nỗ lực phấn đấu, vƣơn lên trong học tập, trong công việc và trong cuộc sống.
Ý thức tự lập Ý thức tự lập là một hình thức rèn luyện bản thân có chọn lọc, tạo nên những thói quen mới trong cách nghĩ, cách hành động và diễn thuyết nhằm mục đích khẳng định nhân cách, bản lĩnh và khả năng của một con ngƣời. Giáo dục Giáo dục, nhìn dƣới góc độ hoạt động, nó là quá trình thế hệ trƣớc truyền đạt lại kinh nghiệm lịch sử - xã hội cho thế hệ sau nhằm chuẩn bị cho họ bƣớc vào cuộc sống lao động cần thiết để tiếp tục phát triển xã hội. Có ngƣời cho rằng, GD với tƣ cách là một hoạt động (quá trình) thể hiện ở 3 cấp độ ý nghĩa: 7 - Giáo dục theo nghĩa rộng nhất, đó là quá trình hình thành con ngƣời dƣới ảnh hƣởng của tất cả các tác động bên ngoài (môi trƣờng tự nhiên và xã hội, các hoạt động chuyên biệt có mục đích của nhà GD). - Giáo dục theo nghĩa rộng (trong Giáo dục học) là sự hình thành con ngƣời dƣới ảnh hƣởng của những tác động có mục đích của nhà GD trong quá trình dạy học và giáo dục (nghĩa hẹp) diễn ra trong hệ thống các thiết chế giáo dục.
[13;16] - Giáo dục theo nghĩa hẹp (trong Giáo dục học) là công tác giáo dục chuyên biệt do nhà GD tiến hành nhằm hình thành hệ thống các phẩm chất nhất định: đạo đức, thế giới quan, niềm tin, quan điểm…[13;16] Với cách hiểu nhƣ trên thì GD theo nghĩa rộng nhất bao gồm cả hai loại quá trình: quá trình tự phát và quá trình tự giác, trong đó quá trình tự giác giữ vị trí quyết định trong đào tạo con ngƣời, hình thành những sức mạnh bản chất của con ngƣời, tác động đến sự phát triển của con ngƣời. Phải làm cho quá trình tự phát và quá trình tự giác có tác động cùng chiều. Nhiệm vụ này không chỉ của nhà GD mà còn của toàn xã hội. Ngoài ra còn có quan niệm về GD theo nghĩa hẹp hơn nữa.
GD theo nghĩa hẹp là một quá trình hình thành và phát triển nhân cách ngƣời đƣợc giáo dục chỉ liên quan đến giáo dục đạo đức. Giáo dục ý thức tự lập Giáo dục ý thức tự lập là hoạt động giáo dục cung cấp kiến thức, những hiểu biết về tự lập cho ngƣời học, từ đó hình thành những hành động và thái độ đúng đắn để tự lập. Giáo dục ý thức tự lập thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp ở tiểu học là một hoạt động giáo dục mà ngƣời học tiếp nhận kiến thức dƣới sự định hƣớng của giáo viên, từ đó hình thành ý thức tự lập. Học sinh tiểu học Cấp tiểu học có 5 lớp, dành cho trẻ từ 6 đến 11 tuổi (đối với một số trẻ em không có điều kiện bình thƣờng để đi học đúng tuổi có thể muộn hơn 1 – 2 năm, nghĩa là học sinh tiểu học có thể có trẻ em ở tuổi 13 – 14).
Hoạt động Hoạt động là quá trình con ngƣời thực hiện các mối quan hệ giữa: - Con ngƣời với thế giới tự nhiên - Con ngƣời với xã hội - Con ngƣời với ngƣời khác - Con ngƣời với chính mình Nhƣ vậy, khái niệm hoạt động đƣợc hiểu theo nghĩa rộng, không chỉ đơn thuần bao gồm các yếu tố “động” mà còn chứa các yếu tố “tĩnh”, không chỉ xét đến tác động vào thế giới tự nhiên và xã hội bên ngoài mà còn nhắc đến thế giới bên trong, đến “cái tôi” đặc thù của mỗi ngƣời. Chính theo nghĩa này, mà Guy Brousseau, cha đẻ của lí thuyết tình huống quan niệm rằng nhân loại tiếp thu và chuyển giao tri thức trong hoạt động và bằng hoạt động. Con ngƣời sống là con ngƣời hoạt động. Hoạt động là phƣơng thức tồn tại của con ngƣời.
Theo tâm lí học macxit, cuộc sống con ngƣời là một dòng hoạt động, con ngƣời là chủ thể của các hoạt động thay thế nhau. Hoạt động là quá trình con ngƣời thực hiện các quan hệ giữa con ngƣời với thế giới tự nhiên, xã hội. Đó là quá trình chuyển hóa năng lực lao động và các phẩm chất tâm lí khác của bản thân thành sự vật, thành thực tế và quá trình ngƣợc lại là quá trình tách những thuộc tính của sự vật, của thực tế quay trở về với chủ thể, biến thành vốn liếng tinh thần của chủ thể. Vậy hoạt động là quá trình tác động qua lại giữa con ngƣời với thế giới xung quanh để tạo ra sản phẩm về phía thế giới và sản phẩm về phía con ngƣời.
Hoạt động ngoài giờ lên lớp Hoạt động ngoài giờ lên lớp (HĐNGLL) là những hoạt động đƣợc tổ chức ngoài giờ học của các môn học ở trên lớp, diễn ra trong hay ngoài nhà trƣờng, đƣợc tổ chức nhằm giáo dục học sinh theo mục tiêu giáo dục đã đề ra, là sự tiếp nối hoạt động giáo dục, là con đƣờng gắn lí thuyết với thực tiễn, tạo nên sự thống nhất giữa các nhận thức và hành động của học sinh. Lý luận về giáo dục ý thức tự lập cho học sinh thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp 1. Mục tiêu của hoạt động ngoài giờ lên lớp đối với việc giáo dục ý thức tự lập cho học sinh tiểu học HĐNGLL góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện nhân cách cho học sinh, nhất là hình thành và phát triển những thái độ, xúc cảm, hành vi tự lập mà việc dạy học trên lớp không có điều kiện thực hiện. HĐNGLL là một sân chơi thú vị với nhiều hình thức phong phú nên khi học sinh đầu tƣ vào thời gian hoạt động bổ ích sẽ giảm thời gian tham gia các hoạt động không lành mạnh, hạn chế nhóm tự phát, tránh ảnh hƣởng xấu.
Nhờ hoạt động và dƣ luận tập thể lành mạnh sẽ điều chỉnh quá trình phát triển thái độ, ý thức tự lập của học sinh. Đƣợc tham gia vào từng hoạt động, các em đƣợc rèn luyện hành vi và thói quen tự lập và biết ứng xử phù hợp với các mối quan hệ xã hội. Thông qua HĐNGLL, học sinh kiểm nghiệm những tri thức tự lập đã tiếp thu đƣợc trong giờ học. Đồng thời, HĐNGLL còn là môi trƣờng, điều kiện giúp các em có cơ hội giao lƣu với nhau, tiếp xúc với cuộc sống muôn màu, muôn vẻ trong những mối quan hệ đa dạng (với bản thân, gia đình, nhà trƣờng, cộng đồng xã hội và với môi trƣờng tự nhiên).
Qua HĐNGLL, học sinh có dịp đƣợc bộc lộ, đƣợc mọi ngƣời xung quanh đánh giá và quan trọng hơn là các em biết tự đánh giá, tự điều chỉnh cách ứng xử của bản thân cho phù hợp với chuẩn mực ý thức tự lập. Nhiệm vụ của hoạt động ngoài giờ lên lớp đối với việc giáo dục ý thức tự lập cho học sinh tiểu học - Giáo dục ý thức: Ý thức của con ngƣời bao gồm hai thành phần cơ bản là tri thức và niềm tin. Những tri thức về đạo đức, lao động, thể chất, thẩm mĩ.mà học sinh lĩnh hội đƣợc qua con đƣờng dạy học, trƣớc hết là qua học tập các môn giáo dục Đạo đức, Thủ công - Kĩ thuật, Thể dục, Mĩ thuật, Âm nhạc và phần Sức khỏe trong Tự nhiên và xã hội và Khoa học, là những tri thức cơ bản nhất, phổ thông nhất, đƣợc chắt lọc kĩ lƣỡng để đƣa vào chƣơng trình các môn học tƣơng ứng. Trong lúc đó, cuộc sống luôn biến động không ngừng và đòi hỏi giáo dục phải thay đổi 10 theo.
Do vậy, những tri thức trên phải đƣợc gọt giũa, củng cố, bổ sung, mở rộng cho phù hợp với thời đại, với đời sống xã hội, cuộc sống thực tế của các em. Một điều rất quan trọng trong giáo dục ý thức – đó là hình thành niềm tin tự lập cho học sinh. Nếu tri thức (mang tính khách quan) không đƣợc củng cố, thử thách, trải nghiệm thì dễ bị mai mọt, thậm chí bị lãng quên. Ngƣợc lại, nhờ việc tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp, trƣớc hết là những hoạt động thực tiễn, những tri thức đó đƣợc củng cố, khắc sâu, mở rộng và từ đó làm cơ sở cho việc hình thành niềm tin tự lập (mang tính chủ quan) ở học sinh.
Tức là, khi đó học sinh không những tin tƣởng vào tính đúng đắn, sự cần thiết, tính tất yếu của việc thực hiện chuẩn mực hành vi, bày tỏ thái độ hài lòng khi chuẩn mực hành vi đƣợc thực hiện, không hài lòng, khó chịu khi chuẩn mực hành vi bị vi phạm, mà còn mong muốn, sẵn sàng thực hiện những hành vi, việc làm phù hợp chuẩn mực.