PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài “Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai”, thiếu niên, nhi đồng hôm nay sẽ là những chủ nhân của đất nƣớc mai sau. Vì thế, trong nhiều thập kỷ qua, việc chăm lo, giáo dục toàn diện cho các em về đạo đức, trí tuệ, thể lực và nhân cách, luôn là mối quan tâm lớn của Đảng, Nhà nƣớc ta. Việt Nam là nƣớc đầu tiên ở Châu Á tham gia “Công ƣớc Quốc tế về Quyền trẻ em”.
Quốc hội Việt Nam đã thông qua “Luật Bảo vệ chăm sóc, giáo dục trẻ em” từ năm 1991. Nghị định 72/2002/NĐ-CP ngày 6/8/2002 của Chính phủ cũng đã quy định: “Thư viện công cộng ở địa phương, thư viện các trường phổ thông và cơ sở giáo dục khác, cung văn hóa thiếu nhi, nhà văn hóa thiếu nhi có trách nhiệm xây dựng bộ phận tài liệu phù hợp với khả năng, tâm sinh lý; lứa tuổi của trẻ em; tổ chức phòng đọc, mượn tài liệu dành riêng để phục vụ trẻ em”. Tuy nhiên, các thƣ viện công cộng trong cả nƣớc nói chung và thƣ viện trên địa bàn Quận 3 nói riêng vẫn chƣa đáp ứng đƣợc tốt nhu cầu của ngƣời đọc, đặc biệt là trẻ em. Các dịch vụ chƣa thu hút, tạo sự hấp dẫn cho các em.
Sách, báo, truyện còn khá đơn điệu. Trong khi đó, việc bùng nổ interrnet nên văn hóa nghe nhìn đã và đang có ảnh hƣởng không nhỏ tới hoạt động đọc của thiếu nhi, tình trạng nghiện Net đang trở nên đáng báo động. Những thông tin này ảnh hƣởng rất nhiều đến tâm lý, tính cách của trẻ. Trong bối cảnh đó, vấn đề đặt ra cho các ban ngành, cơ quan, đơn vị, đặc biệt là thƣ viện làm thế nào để có những dịch vụ phục vụ cho các em đƣợc tốt hơn, vừa đáp ứng tối đa nhu cầu vừa đảm bảo thực hiện tốt chức năng giáo dục, hình thành và phát triển nhân cách cho các em.
Các thƣ viện phục vụ thiếu nhi trên địa bàn Quận 3, Tp. Hồ Chí Minh là cơ sở giáo dục ngoài nhà trƣờng, có vai trò quan trọng trong việc cùng nhà 2 trƣờng giáo dục nhân cách toàn diện cho các em, các dịch vụ phục vụ thiếu nhi giúp thiếu nhi trang bị kiến thức tốt. Giáo dục con ngƣời toàn diện, và đọc sách suốt đời. Tuy nhiên, cơ sở vật chất phục vụ thiếu nhi còn nghèo nàn, thiếu kinh phí đầu tƣ, thiếu cán bộ chuyên trách phục vụ bộ phận thiếu nhi, chƣa thu hút đƣợc thiếu nhi đến với thƣ viện, các dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu đọc trong thƣ viện cho thiếu nhi chƣa đa dạng và còn mang tính hình thức, thời vụ, chƣa đi vào chiều sâu và chƣa thực sự quan tâm tới lợi ích thiết thực cũng nhƣ nhu cầu của các em.
Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi chọn đề tài “Dịch vụ thư viện phục vụ thiếu nhi trên địa bàn Quận 3 Thành phố Hồ Chí Minh” với mong muốn góp phần phát triển dịch vụ phục vụ cho thiếu nhi tại thƣ viện địa bàn Quận 3 nói riêng và sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ cho Tp. Hồ Chí Minh nói chung. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 2. Mục đích nghiên cứu Khảo sát, trình bày, phân tích, đánh giá thực trạng dịch vụ thƣ viện phục vụ thiếu nhi trên địa bàn Quận 3, Tp.
Hồ Chí Minh. Trên cơ sở này, luận văn đề xuất các giải pháp về dịch vụ thƣ viện phục vụ thiếu nhi trên địa bàn Quận 3, Tp. Hồ Chí Minh. Nhiệm vụ nghiên cứu Để thực hiện mục đích nghiên cứu, luận văn tập trung giải quyết ba nhiệm vụ sau: - Trình bày cơ sở lý luận và tổng quan về địa bàn nghiên cứu.
- Khảo sát, trình bày, phân tích, đánh giá thực trạng dịch vụ thƣ viện phục vụ thiếu nhi của thƣ viện trên địa bàn Quận 3, Tp. Hồ Chí Minh. - Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng, tăng cƣờng hiệu quả dịch vụ thƣ viện của thƣ viện trên địa bàn Quận 3, Tp. Hồ Chí Minh.
Tổng quan tình hình nghiên cứu Trong những năm qua, việc nghiên cứu về thƣ viện, dịch vụ thƣ viện hay dịch vụ thƣ viện cho đối tƣợng thiếu nhi đã đƣợc quan tâm nhiều thông qua các công trình nghiên cứu khoa học cụ thể nhƣ: Các công trình đề cập về thư viện nói chung Năm 1998, Trần Mạnh Tuấn biên soạn giáo trình “Sản phẩm và dịch vụ thông tin, thư viện” bao gồm 324 trang. Giáo trình đã nêu những vấn đề chung bao gồm những khái niệm; các sản phẩm và các dịch vụ thông tin, thƣ viện. Trong đó, cuốn sách nhấn mạnh đến marketing sản phẩm, dịch vụ thông tin thƣ viện đƣợc đề cập theo cách quản lý kinh tế đối với lĩnh vực phi lợi nhuận. Giáo trình đã cung cấp cho ngƣời sử dụng thƣ viện những thông tin rất hữu ích liên quan sản phẩm và dịch vụ thông tin, thƣ viện.
Năm 2000, Lê Văn Viết có công trình “Cẩm nang nghề thư viện” đã trình bày các vấn đề liên quan đến công tác thƣ viện bao gồm phƣơng diện lý thuyết và thực tiễn. Đây là một cẩm nang cần thiết cho những ai làm công tác thƣ viện và những sinh viên, học viên cao học nghiên cứu về chuyên ngành thƣ viện. Cẩm nang bao gồm 04 phần với các nội dung chính nhƣ: Phần I: Thƣ viện và tổ chức sự nghiệp thƣ viện Việt Nam với các khái niệm về thƣ viện; Các chức năng của thƣ viện; Lƣợc sử quá trình phát triển thƣ viện; tổ chức sự nghiệp thƣ viện ở Việt Nam; tin học hóa công tác thƣ viện. Phần II: Các chu trình, quá trình của công tác thƣ viện (Khái quát chung về các chu trình, quá trình chủ yếu của công tác thƣ viện; Các công việc chuyên môn cụ thể; xử lý phân tích – tổng hợp tài liệu; tổ chức và sắp xếp kho tài liệu; bảo quản nguồn tài nguyên thƣ viện; kiểm kê nguồn tài nguyên thƣ viện; công tác phục vụ ngƣời sử dụng thƣ viện của thƣ viện).
Phần III: Quản lý thƣ viện (Những vấn đề chung về quản lý; nội dung quản lý thƣ viện; công tác nghiên 4 cứu khoa học và hƣớng dẫn nghiệp vụ của thƣ viện). Phần IV: Thiết kế và nội thất các ngôi nhà thƣ viện. Năm 2002, Vụ Thƣ viện có công trình “Về công tác thư viện các văn bản pháp quy hiện hành về thư viện” bao gồm 05 phần. Phần I: Văn kiện của Đảng (trích) và các văn bản pháp quy của Nhà nƣớc về thƣ viện.
Phần II: Các văn bản pháp quy về thƣ viện công cộng. Phần III: Các văn bản pháp quy về các thƣ viện đa ngành, chuyên ngành. Phần IV: Các văn bản pháp quy về ứng dụng công nghệ thông tin. Phần V: Các văn bản pháp quy khác có liên quan đến công tác thƣ viện.
Cuốn sách nhằm phổ biến và cung cấp các chủ trƣơng, chính sách, thông tƣ, quyết định,… của Đảng và Nhà nƣớc của Bộ Văn hóa, Thông tin chỉ đạo về công tác thƣ viện. Đây chính là một cuốn sách quan trọng bổ sung những cơ sở pháp lý cho những cán bộ đang công tác và các sinh viên học liên quan đến chuyên ngành thƣ viện. Năm 2010, Nguyễn Thị Hoạt với Luận văn “Hệ thống thư viện công cộng Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập phát triển” đã làm rõ nội hàm các khái niệm nhƣ: Đổi mới, hội nhập và phát triển nói chung và trong lĩnh vực hoạt động thông tin thƣ viện nói riêng. Nghiên cứu vai trò, vị trí và nhiệm vụ của sự nghiệp thông tin thƣ viện trong giai đoạn đổi mới, hội nhập.
Nghiên cứu thực trạng và phân tích các kết quả đạt đƣợc mọi mặt hoạt động của hệ thống thƣ viện công cộng trong quá trình đổi mới. Đánh giá những thuận lợi, khó khăn, cơ hội, thách thức mà hệ thống thƣ viện công cộng đã và sẽ trải qua trong quá trình đổi mới hội nhập và phát triển. Trên cơ sở đó, tác giả kiến nghị và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống thƣ viện công cộng nhằm góp phần phát triển sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc trong giai đoạn đổi mới. Năm 2011, Toạ đàm “Về cơ chế chính sách trong tổ chức hoạt động phòng đọc sách phường - xã” với các bài tham luận nhƣ: Thực hiện tốt mô 5 hình xã hội hóa trong hoạt động phòng đọc sách phƣơng pháp và kinh nghiệm xây dựng, tổ chức hoạt động luân chuyển sách có hiệu quả tại Nhà Văn hóa Phƣờng 10 Quận 10; Phát huy sự gắn kết hoạt động có hiệu quả phòng đọc sách trong phòng đọc sách trong hệ thống thiết chế văn hóa cấp phƣờng tại Nhà Văn hóa Thể thao Tân Thới Hiệp Quận 12; Duy trì có hiệu quả văn hóa đọc của ngƣời dân ngoại thành tại Nhà Văn hóa xã Phƣớc Lộc huyện Nhà Bè; Mô hình hoạt động tủ sách khu phố tại Khu phố 4B Phƣờng 11 Quận 5; Tổ chức và hoạt động thƣ viện cơ sở - Thực trạng và giải pháp,.
Những bài tham luận trên đã nêu lên những vấn đề đang và đã gặp phải trong thực tiễn của một số đơn vị phƣờng xã. Đỗ Thị Bé Tƣ có bài viết đăng trên Tạp chí Thƣ viện Việt Nam với tựa đề “Giới thiệu các dịch vụ thư viện – thông tin và cách thức quảng bá sản phẩm, dịch vụ tại thư viện Đại học An Giang”. Bài viết nhấn mạnh đến việc xây dựng và phát triển các sản phẩm, dịch vụ thông tin để phục vụ cho hoạt động đào tạo và nghiên cứu của Trƣờng. Bài viết đề cập đến một số đặc tính của dịch vụ thƣ viện thông tin và giới thiệu một số dịch vụ thƣ viện thông tin tại thƣ viện Đại học An Giang.
Một số hình thức quảng bá sản phẩm, dịch vụ thƣ viện. Trần Mỹ Dung với bài viết “Dịch vụ thư viện hiện đại ở Xingapo” đăng trên tạp chí Thƣ viện Việt Nam, số 2(18). Bài viết phân tích nguyên nhân vì sao ngƣời dùng tin ở Xingapo thƣờng vào Internet để tìm kiếm thông tin thay vì tới thƣ viện. Điều này xuất phát từ những nguyên nhân chính nhƣ: cách thức phục vụ ngƣời sử dụng thƣ viện, tâm lý của ngƣời sử dụng thƣ viện và môi trƣờng mà họ tìm kiếm thông tin.
Đồng thời, hiện nay thƣ viện quốc gia Singapo đang thực hiện ba phƣơng thức mới trong hoạt động cung cấp dịch vụ thƣ viện hiện đại tới ngƣời sử dụng thƣ viện nhằm đáp ứng nhu cầu của 6 ngƣời sử dụng thƣ viện (phƣơng thức phục vụ theo kiểu nhà hàng; theo kiểu câu cá; chuyên biệt).