phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Nội dung luận văn gồm 3 chương, 7 tiết. MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUAT CHUNG VE PHẬT GIAO TỈNH KIÊN GIANG 1. Một số van đề lý luận chung 1. Một số khái niệm co bản Trong nghiên cứu, tác giả đề cập đến một số khái niệm chuyên ngành của Phật giáo và một số khái niệm có liên quan.
Đề triển khai vẫn đề một cách hiệu quả, luận văn phân tích nội hàm một số khái niệm cơ bản: Bồ thí: Theo Từ dién Phật học: “Hành động hiến tặng vật chat, năng lực hoặc trí tuệ cho người khác, được xem là hạnh quan trọng nhất trong Phật pháp. Bồ thí là một trong sau hạnh Ba-la-mát-đa (Lục độ), một trong mười Tùy niệm (p:anussafi) và là một hạnh quan trọng dé nuôi dưỡng Công đức (s:punya). Trong Tiểu thừa, bố thí được xem là phương tiện dé đối trị tính tham ái, ích kỷ và được thực hành dé đối trị tính tham ái, ích kỉ và được thực hành dé chống khổ dau của đời sau. Theo Đại thừa, bo thí là biểu hiện của lòng Từ bi và là phương tiện dé dẫn dat chúng sinh đến giác ngộ.
Hành động bố thi thức ăn cho các vị Khat sĩ hiện nay vẫn còn phổ biến tại các nước theo Phật pháp Nam truyền. Phật tử tại các nước này cúng tặng tiền bạc và phẩm vật cho chùa chiên và tăng sĩ, ngược lại các vị tỉ - khâu “bó thí” Phật pháp, hướng dan tu học. Hành động này cũng được xem là dé nuôi dưỡng phúc duc” [2.86] Như vậy, có thể thấy, Bồ thí là một khái niệm khá cơ bản, quan trong trong giáo lý Phật giáo. Bố thí là hạnh đầu tiên trong sáu hạnh cua Bồ tát.
Nguyên âm chữ Phan nghĩa là sự cho, dịch sang tiếng Việt là sự Bồ thí. Bồ là khắp, thí là cho, cho khắp tất cả. Như vậy, với Phật giáo, Bồ thí nghĩa là sự cho, tặng, biêu, cúng dường. 10 Trong luận văn sẽ phân tích cho thấy Bồ thí là một trong những nội dung căn bản của giáo lý Phật giáo là nguồn gốc, nền tảng của công tác từ thiện Phật giáo nói chung, hoạt động nuôi dạy trẻ em có hoàn cảnh khó khăn nói riêng.
Nhập thế: Trong thời gian gần đây, trong giới nghiên cứu tôn giáo học, khái niệm nhập thé được nhắc đến khá phô biến khi nhắc đến các hoạt động từ thiện xã hội của Phat giáo, coi các hoạt động từ thiện xã hội là một biểu hiện cụ thé sinh động của tinh thần nhập thế của Phật giáo. Thiền sư Thích Nhất Hạnh viết về nhập thế của Phật giáo: “đem đạo Phật đi vào cuộc đời có nghĩa là thể hiện những nguyên lý đạo Phật trong sự sống, thể hiện bằng những phương thức phù hợp với thực trạng của cuộc đời để cải biến cuộc đời theo chiều hướng thiện, mỹ. Chừng nào sinh lực của đạo Phật được trông thay dao dat trong mọi hình thức của sự sống chừng đó ta mới có thể nói được rằng dao Phật đang thật sự hiện hữu trong cuộc đời”. Và “Cuộc đời có nghĩa là cuộc sống hay xã hội.
Đạo Bụt nhập thế tiếng Việt được hiểu là đạo Bụt đi vào cuộc sống, đạo Bụt đi vào xã hội” [Trích theo 28]. Hay trong công trình “Socially Engaged Buddhism — Dimensions of Asian Spirituality” tác giả Allie B. King đã chỉ rõ: “Phật giáo nhập thế (Engaged Buddhism) là một hình thức đương đại của Phật giáo, tham gia tích cực nhưng không bạo lực dé giải quyết các van đề xã hội, kinh tế, chính trị, môi trường. Ở trạng thái tốt nhất, sự tham gia này không tác rời khỏi tỉnh thần của Phật giáo, mà là một biểu hiện của nó” [Trích theo 28].
Như vậy, có thể hiểu: “Nhập thế” thường được sử dụng với nghĩa là sự tham gia của các chức sắc, tín đồ tôn giáo vào các hoạt động của đời sống xã hội. Sự nhập thế của Phật giáo trong xã hội hiện nay được biểu hiện bang cac hoạt động thực hiện việc đời bên cạnh việc tu tập của Tang ni, Phật tử. Chính vì thế hoạt động từ thiện là một biểu hiện cụ thể, rõ nét tinh thần nhập thế của 11 Phật giáo. Những hoạt động từ thiện xã hội góp phan giải quyết các van dé xã hội của con người, giúp con người có cuộc sống tốt đẹp hơn, đúng với tư tưởng “Phụng sự chúng sinh là cúng dường chư Phật” của Phật giáo.
Thích Huệ Thông đã từng viết: “Trên bước đường nhập thế, hoạt động từ thiện xã hội là phương tiện mang đạo vào đời, gieo duyên sâu rộng trong đời sống, chuyên tải thông điệp từ bi cứu khô ban vui của đạo Phật, hoạt động từ thiện xã hội là một trong những thế mạnh của Phật giao, gop phan thiét thuc vào công tác an sinh xã hội” [24, tr. Từ thiện: Từ thiện là một từ Hán Việt (24%) kết hợp giữa hai từ: “Từ” là nhân từ, từ tâm và Thiện là tốt lành. Theo 7? điển Tiếng Việt, Từ thiện là (người có của) có lòng thương người, sẵn sàng giúp đỡ người nghèo khô dé làm phúc. Theo Tir điển Phật hoc, Từ thiện là những việc cứu giúp kẻ nghèo khổ, tật bệnh, hoạn nạn trong đời dựa trên cơ sở của lòng từ ái.
Từ thiện, theo quan điểm của Phật giáo, thường được hiểu là bố thí (xem: Bố thi). Từ thiện xã hội: Khái niệm 7T? (hiện xã hội được sử dụng trong bai viết này với nghĩa là những hoạt động giúp đỡ, cứu trợ những người nghèo khổ, tật bệnh, hoạn nạn, khó khăn trong cuộc song. Với Phat giáo, từ thiện xã hội là sự thé hiện lòng từ bi và tinh thần nhập thế, su dan than của các vi tang si va Phat tu vao doi song xã hội thé hiện qua những hoạt động cụ thể để cứu giúp những mảnh đời khổ hạnh. Quản lý Nhà nước về từ thiện xã hội của Phật giáo Chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta đối với tôn giáo ngày cảng thé hiện sự cởi mở, đổi mới, trong đó lĩnh vực hoạt động từ thiện xã hội của tôn giáo.
Các văn bản quản lý từ năm 1990 đến nay đã luôn thé hiện sự tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của 12 nhân dân, tạo điều kiện dé các cá nhân, tổ chức tôn giáo phát huy giá trị đạo đức tôn giáo thông qua việc tham gia các hoạt động từ thiện xã hội. Nghị quyết 24/NQ — TW, ngày 16/10/1990 của Bộ Chính trị đã thừa nhận: “Đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới”. Nghị quyết đã đánh dấu mốc quan trọng cho sự đổi mới căn bản, đột phá trong nhận thức, ứng xử với tôn giáo, tín ngưỡng của Đảng ta. Đến Nghị định số 26/1999/NĐ-CP, ngày 19/4/1999 của Chính phủ về các hoạt động tôn giáo, Điều 17: “1, Chức sắc, nhà tu hành tôn giáo được hoạt động kinh tế, văn hóa - xã hội như mọi công dân khác.
Chức sắc, nhà tu hành và tô chức tôn giáo hoạt động từ thiện theo quy định của Nhà nước. Các cơ sở từ thiện do chức sắc, nhà tu hành và tô chức tôn giáo bảo trợ hoạt động theo sự hướng dẫn của các cơ quan chức năng của Nhà nước”. Đến Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004 (số 21/2004/PL- UBTVQHII, ngày 18/6/2004) đã quy định khá rõ ràng và cụ thé việc tạo điều kiện dé các tổ chức tôn giáo tham gia các hoạt động xã hội hóa giáo dục, ý tế, từ thiện nhân đạo, với điều kiện tuân thủ quy định pháp luật và phù hợp hiến chương, điều lệ của t6 chức tôn giáo. Điều 33 Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo quy định: Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện để tổ chức tôn giáo tham gia nuôi dạy trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt; hỗ trợ cơ sở chăm sóc sức khỏe người nghèo, người tản tật, người nhiễm HIV/AIDS, bệnh nhân phong, tâm thần; hỗ trợ phát triển các cơ sở giáo dục mam non và tham gia các hoạt động khác vì mục đích từ thiện nhân đạo phù hợp với hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo và quy định của pháp luật.
Chức sắc, nhà tu hành với tư cách công dân được Nhà nước khuyến khích tổ chức hoạt động giáo dục, y tế, từ thiện nhân đạo theo quy định của pháp luật. 13 Tiếp đến, Nghị định số 22/2005/ND — CP, ngày 1/3/2005, rồi đến Nghị định số 92/2012/ND - CP, ngày 8/11/2012 của Chính phủ là sự cụ thé hóa chi tiết các quy định và biện pháp thi hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo, trong Điều 36 quy định khá rõ hơn về van đề tô chức quyên góp của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo: “1, Cơ sở tín ngưỡng, tô chức tôn giáo có trách nhiệm gửi văn bản thông báo đến co quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều này về việc tổ chức quyên góp, trong đó nêu rõ mục đích, phạm vi, cách thức, thời gian, cơ chế quản lý, sử dụng tài sản được quyên góp. Cơ quan nhận thông báo về việc quyên góp của cơ sở tín ngưỡng, tô chức tôn giáo: a) Trường hợp tô chức quyên góp trong phạm vi một xã, thông báo với Uy ban nhân dân cấp xã nơi tô chức quyên góp; b) Trường hợp tổ chức quyên góp vượt ra ngoài phạm vi một xã nhưng trong phạm vi một huyện, thông báo với Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi tô chức quyên góp; c) Trường hợp tô chức quyên góp vượt ra ngoài phạm vi một huyện, thông báo với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi tổ chức quyên góp. Và còn nhiều văn bản khác nữa.
Như vậy, ké từ Nghị quyết 24/NQ — TW, ngày 16/10/1990 của Bộ Chính tri - đánh dấu sự đôi mới về quan điểm nhìn nhận, ứng xử với van đề tín ngưỡng, tôn giáo đã thể hiện về mặt quan điểm, đường lối, Đảng và Nhà nước ta chủ trương tạo điều kiện và khuyến khích mọi cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước tham gia vào công tác xã hội hóa giáo dục, y tế, từ thiện nhân đạo trên tinh thần tôn trọng những quy định của pháp luật và phù hợp với hiến 14 chương, điều lệ của tô chức tôn giáo. Tuy nhiên trên thực tế việc thực thi còn nhiều bất cập. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo ra đời năm 2016 — Đánh dấu mốc son trong quá trình hoàn thiện chính sách, pháp luật của Nhà nước ta về vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo. Trong Mục 3, chương VI.