Chương 1: Cơ sở khoa học của đề tài Chương 2: Biện pháp giáo dục tính trách nhiệm trong học tập cho học sinh lớp 4. Chương 3: Thực nghiệm sư phạm. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Một số khái niệm cơ bản 1.
Trách nhiệm Cho đến nay có rất nhiều quan niệm về trách nhiệm. Qua nghiên cứu tài liệu, trách nhiệm được hiểu như sau: Theo từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học: “Trách nhiệm được hiểu là sự ràng buộc đối với lời nói, hành vi của mình, bảo đảm đúng đắn nếu sai trái thì phải chịu phần hậu quả” [22, tr. Theo từ điển Tiếng Việt: “trách nhiệm là điều phải làm, phải gánh vác hoặc phải nhận lấy về mình” [21, tr. Theo từ điển Triết học, trách nhiệm là phạm trù đạo đức và luật học phản ánh thái độ đạo đức, pháp luật của cá nhân đối với xã hội (đối với nhân loại nói chung).
Thái độ này biểu thị ở sự hoàn thành nghĩa vụ đạo đức của mình và các tiêu chuẩn pháp luật [20]. Theo từ điển Bách khoa Việt Nam, trách nhiệm là khái niệm của ý thức đạo đức và ý thức pháp luật, nói lên nhân cách con người trong việc thực hiện nghĩa vụ do xã hội đặt ra cho con người. Nội dung vấn đề trách nhiệm đặt ra là: con người hoàn thành và hoàn thành đến mức độ nào, hoặc không hoàn thành những yêu cầu xã hội đặt ra cho họ [20]. Ngày nay, trách nhiệm được hiểu không chỉ là khả năng nhận thức về bổn phận, nghĩa vụ và hậu quả do những hành động của mình đưa lại, mà còn được hiểu rộng hơn, trách nhiệm - đó là thái độ của cá nhân đối với cộng đồng.
Thái độ này biểu thị việc thực thi nghĩa vụ đạo đức và tuân thủ các tiêu chuẩn của luật pháp, tức là tuân thủ các quy định đạo đức và tuân thủ các tiêu chuẩn của luật pháp, mà các cá nhân trong cộng đồng đã thỏa thuận. [23] Trách nhiệm không chỉ là năng lực, ý thức về hậu quả của hành vi, mà còn là bản thân việc thực hiện hành vi đó của chủ thể đối với đối tượng được xem 11 xét tương quan cá nhân với cộng đồng xã hội [13]; và “Việc thực thi trách nhiệm là cách thức để con người điều chỉnh hành vi của mình sao cho lợi ích của cá nhân phù hợp với lợi ích của cộng đồng. Do đó, có thể nói trách nhiệm là phương tiện để con người kích thích hay kiềm chế hành động của mình theo hướng sao cho đạt được sự thống nhất giữa lợi ích của cá nhân với lợi ích của cộng đồng;. nó bị quy định bởi những nhu cầu phát triển của đời sống con người và được hình thành trong quá trình điều chỉnh lợi ích giữa người và người” [14, tr.
Từ những phân tích ở trên, có thể đi đến kết luận: Trách nhiệm là bổn phận, nghĩa vụ đối với người khác, nhóm, xã hội mà cá nhân phải thực hiện vì sự phát triển của xã hội, con người, trong đó có từng cá nhân. Trong trách nhiệm có sự thống nhất giữa bổn phận, nghĩa vụ và quyền lợi của cá nhân. Trong giới hạn của luận văn này, chúng tôi chỉ nghiên cứu về trách nhiệm của HS tiểu học. Do đó, “Trách nhiệm của HS được hiểu là HS ý thức được bổn phận, nghĩa vụ và hậu quả những hành động của mình đối với nhiệm vụ học tập, trường lớp, với mọi người trong gia đình, với cộng đồng và với cả bản thân, được thể hiện sự cố gắng trong việc làm, hành động, hành vi để tạo sự thay đổi tích cực cho bản thân, gia đình, nhà trường và cộng đồng dựa trên nền tảng tuân thủ các quy định đạo đức và các tiêu chuẩn của luật pháp”.
Theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018, phẩm chất trách nhiệm ở cấp Tiểu học được biểu hiện cụ thể như sau: Có trách nhiệm với bản thân: - Có ý thức giữ gìn vệ sinh, rèn luyện thân thể, chăm sóc sức khỏe. - Có ý thức sinh hoạt nề nếp Có trách nhiệm với gia đình: - Có ý thức giữ gìn đồ dùng trong nhà, không làm hỏng, làm mất đồ dùng của cá nhân và gia đình. - Không bỏ thừa đồ ăn, thức uống; có ý thức tiết kiệm tiền bạc, điện nước trong gia đình. 12 Có trách nhiệm với nhà trường và xã hội: - Tự giác thực hiện nghiêm túc nội quy của nhà trường và các quy định, quy ước của tập thể; giữ vệ sinh chung; bảo vệ của công.
- Không gây mất trật tự, cãi nhau, đánh nhau tại trường học, nơi ở và nơi công cộng. - Nhắc nhở bạn bè chấp hành nội quy trường lớp; nhắc nhở người thân chấp hành luật lệ nơi công cộng. - Có trách nhiệm với công việc được giao ở trường, ở lớp. - Tích cực tham gia các hoạt động tập thể, hoạt động xã hội - Có trách nhiệm với môi trường sống: - Có ý thức chăm sóc, bảo vệ cây xanh và các con vật có ích.
- Có ý thức giữ vệ sinh môi trường, không xả rác bừa bãi. - Không đồng tình với những hành vi xâm hại thiên nhiên. Tính trách nhiệm Theo từ điển Anh Việt: “tính” là đặc trưng tâm lý của từng người trong việc đối xử với xã hội và sự vật bên ngoài. “Tính” còn xem là một thói quen do tập nhiễm lâu ngày mà có, “tính” là tính chất, là phẩm chất.
Ngoài ra, “tính” có nghĩa là tính cách, là tổ hợp những đặc tính bền vững của nhân cách được hình thành và biểu hiện trong hoạt động giao tiếp, quy định những phương thức đặc thù cho phương thức hành vi, hoạt động cá nhân [12]. Trách nhiệm như một phẩm chất nội tại, là một đòi hỏi trong sự hình thành nhân cách cá nhân [20, tr. Theo đó, tính trách nhiệm thực chất là phẩm chất trách nhiệm, là một phẩm chất nhân cách của con người. Do đó, người có trách nhiệm (Responsible being) có thể xem là người có tính trách nhiệm hoặc là người có phẩm chất trách nhiệm.
Trong đó, phẩm chất có thể bao gồm: phẩm chất xã hội (thế giới quan, niềm tin, lý tưởng, lập trường, thái độ); phẩm chất cá nhân (đạo đức, tư cách.), phẩm chất ý chí - tính cách (tính mục đích, tính ý chí, tính trách nhiệm.) và cung cách ứng xử (tính khí, tác phong. Như vậy, tính trách nhiệm được xem là một phẩm chất 13 thuộc nhóm phẩm chất ý chí - tính cách và là một nhóm phẩm chất thuộc phẩm chất cá nhân. Các yếu tố thành phần của phẩm chất đã được xác định trong lí luận giáo dục bao gồm: nhận thức, thái độ và hành vi. Mặt khác, cũng có cách tiếp cận khác chú trọng đến kết quả của hành động có trách nhiệm thì có thể xem trách nhiệm như năng lực; trong luận văn này tác giả xem tính trách nhiệm còn hàm chứa cả kĩ năng đảm nhận trách nhiệm, do đó tính trách nhiệm không chỉ là phẩm chất nhân cách, mà trách nhiệm còn thể hiện năng lực.
Hiện nay, trong khoa học có xu hướng xem xét phẩm chất và năng lực có mối quan hệ liên quan mật thiết với nhau, không tách rời và còn hàm chứa lẫn nhau. Xem xét khía cạnh năng lực của tính trách nhiệm: thành phần cấu trúc của năng lực theo quan niệm tổng hợp cũng bao gồm tri thức, thái độ và hành vi. Như vậy, các thành tố cấu trúc tạo nên phẩm chất hay năng lực là thống nhất. Từ đó có thể kết luận, tính trách nhiệm có các yếu tố hợp phần là: nhận thức, thái độ và hành vi; ba mặt cơ bản này có quan hệ qua lại và tác động ảnh hưởng lẫn nhau, nhận thức là cơ sở cho hành động, thái độ.
Thái độ là động lực cho nhận thức và hành động. Hành động là nơi hình thành, biểu hiện của nhận thức, thái độ con người và cuối cùng thể hiện ra bên ngoài là việc làm, hành vi Hành vi củng cố thêm thái độ và làm sâu sắc hơn nhận thức. Tóm lại, tính trách nhiệm vừa thể hiện phẩm chất vừa thể hiện năng lực của con người. Tính trách nhiệm còn thể hiện năng lực khi cá nhân hiểu về trách nhiệm, ý nghĩa tầm quan trọng của trách nhiệm, thái độ tự giác, sẵn sàng thực hiện bổn phận, nghĩa vụ, thực hiện được các hành động, hành vi thể hiện bổn phận, nghĩa vụ có kết quả.
Tính trách nhiệm là phẩm chất khi cá nhân hiểu được trách nhiệm là gì, nhận thức được tầm quan trọng của trách nhiệm, và thực hiện hành vi, hành 14 động phù hợp với bổn phận, nghĩa vụ của bản thân- nghĩa là thể hiện sự thống nhất giữa nhận thức, thái độ và hành vi. Như vậy, khi xem tính trách nhiệm với tư cách là phẩm chất chỉ dừng ở cá nhân đó có thể hiện hành động, hành vi có trách nhiệm hay không? còn khi xem tính trách nhiệm với tư cách là năng lực thì còn cần phải xem xét thêm hành động, hành vi có trách nhiệm đó có đạt được kết quả mong muốn hay không? Trong khuôn khổ giới hạn của nghiên cứu này, chúng tôi tiếp cận khái niệm tính trách nhiệm ở cả hai khía cạnh, vừa là một phẩm chất tâm lý của cá nhân, vừa là một biểu hiện của năng lực học tập. Do đó, những đánh giá và tác động chủ yếu xem xét dưới góc độ thể hiện ở thái độ, hành vi học tập của HS là biểu hiện có trách nhiệm hay không có trách nhiệm đối với việc học tập và có kiểm chứng thông qua kết quả học tập các môn học của HS. Giáo dục tính trách nhiệm trong học tập Giáo dục là một quá trình tác động có ý thức của nhà giáo dục đến người được giáo dục bằng những nội dung, phương pháp phù hợp để đạt mục đích giáo dục.
Theo tiếp cận hệ thống cấu trúc, quá trình giáo dục bao gồm các thành tố mục tiêu giáo dục, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục, phương tiện giáo dục, hình thức giáo dục, nhà giáo dục, người được giáo dục, môi trường giáo dục và kết quả giáo dục. Các thành tố này có mối quan hệ chặt chẽ và chế ước lẫn nhau. Như vậy, giáo dục tính trách nhiệm trong học tập cho HS là một quá trình tác động có ý thức của nhà giáo dục với nội dung và biện pháp phù hợp nhằm nâng cao trách nhiệm trong học tập cho HS.