đặt vấn đề này thể hiện quan điểm của ông là từ chối việc dùng tư duy lý tính để khám phá ra quy luật của cái đẹp cũng như quy luật thẩm mỹ nói chung.Cantơ cho rằng, nếu con người sử dụng lý trí của mình để tìm hiểu đời sống tinh thần và cụ thể là đời sống thẩm mỹ thì không thể nhận thức hết được mà cần phải dùng đến phương thức nhận thức bằng hình tượng dựa vào năng lực cảm nhận đối tượng trên cơ sở phán đoán thẩm mỹ của chủ thể. Theo ông, trong mỹ học để tìm ra chân lý, con người cần có “phán đoán thẩm mỹ”. Đây không phải phán đoán lý tính nhằm vươn tới cái đúng, hay phán đoán đạo đức để đạt tới cái tốt mà là dùng một loại trực cảm đặc biệt 17 thông qua năng lực cảm thụ thẩm mỹ, năng lực đánh giá thẩm mỹ và năng lực thỏa mãn. Trong tư tưởng của I.Cantơ, ý thức thẩm mỹ thống nhất với triết học của ông.
Để nhận thức được hết vật tự nó, thì con người cần phải dùng năng lực cảm thụ, năng lực đánh giá và năng lực thỏa mãn (hay năng lực thưởng ngoạn) để khám phá cái đẹp toàn vẹn, phổ biến, khám phá và nắm bắt được cái tận thiện, cái tận mỹ. Khi bàn sâu về ý thức thẩm mỹ, I.Cantơ đã tập trung phân tích năng khiếu thẩm mỹ của chủ thể.Cantơ, năng khiếu thẩm mỹ thực chất là sự phán đoán một cách chủ quan về cái đẹp. Cái đẹp được ông nghiên cứu theo phương pháp hệ thống phạm trù triết học: Một là, phán đoán thẩm mỹ là phán đoán tình cảm với nguyên tắc “Chỉ có thể là chủ quan mà thôi” giữ vị trí quyết định. Tiếp theo, sự phán đoán thẩm mỹ về cái đẹp có đặc điểm là vô tư.
Tuyệt đối hóa tính vô tư chủ quan trong khiếu thẩm mỹ, I.Cantơ cho rằng, phán đoán chủ quan ấy không liên quan gì đến lợi ích, tới sự tồn tại của đối tượng, do đó không liên quan gì đến nhu cầu, lòng ham muốn và những dự định của con người. Hai là, phán đoán thẩm mỹ chỉ quan tâm đến cảm giác chủ quan và các thang bậc của khoái cảm chủ quan về đối tượng.Cantơ nói rõ chức năng của phán đoán thẩm mỹ không phải là hoạt động nhận thức mà là hoạt động khoái cảm về cái đẹp. Ba là, phán đoán thẩm mỹ là phán đoán về tính phù hợp mà không có bất kỳ mục đích nào. Hay nói cách khác, đây là sự vận động tư do của những năng lực của con người.
Trên cơ sở tính không mục đích, không vụ lợi và tính có mục đích của phán đoán thẩm mỹ, I.Cantơ chia làm hai loại: cái đẹp tự do và cái đẹp liên kết. Rồi ông kết luận, chỉ có cái đẹp tự do mới xứng đáng được gọi là cái đẹp 18 thuần khiết vì nó gây nên những hứng thú thẩm mỹ bằng chính những hình thức thuần túy tuyệt đối của nó.Cantơ quan niệm, cái đẹp là cái gây thích thú một cách tất yếu mà không có khái niệm. Cho nên ông nói: “Người ta chỉ có thể đưa ra những ví dụ về cái đẹp, người ta không thể đưa ra định nghĩa về nó được”.Cantơ, nền triết học và mỹ học cổ điển Đức đã xuất hiện thêm một đại biểu xuất sắc, được xem là bộ óc bách khoa của thời đại, đó là G. Có thể nói rằng, mỹ học của ông là một trong ba đỉnh cao sáng chói của nhân loại trước khi những tư tưởng mỹ học của chủ nghĩa Mác xuất hiện.
Hêghen đã nghiên cứu mỹ học một cách có hệ thống và trình bày những tư tưởng mỹ học của mình trong các tác phẩm chủ yếu như: Hiện tượng luận tinh thần, Triết học tinh thần và đặc biệt là Tập bài giảng về Mỹ học của ông khi ông làm việc tại các trường đại học, về sau đã được in trong tác phẩm Mỹ học Hêghen. Hệ thống mỹ học của Hêghen xuất phát từ quan điểm về hiện tượng luận tinh thần. Ông cho rằng, ý thức thẩm mỹ cũng như ý thức tôn giáo đều là sự thể hiện của tinh thần tuyệt đối và tinh thần tuyệt đối trong mỹ học của Hêghen là sự thể hiện bằng hình ảnh. Thống nhất với hệ thống triết học của mình, Hêghen đã chia lý luận mỹ học thành các học thuyết về cái đẹp nói chung (cái đẹp trong tự nhiên và cái đẹp trong nghệ thuật); học thuyết về sự vận động của ý niệm, của lý tưởng trong sự phát triển lịch sử; học thuyết về các ngành nghệ thuật cụ thể.
Và có thể khẳng định rằng, các tri thức thẩm mỹ của Hêghen thông qua các học thuyết cụ thể trên vô cùng sâu sắc. Mỹ học của Hêghen đã quan tâm đặc biết đến chủ thể sáng tạo và vấn đề sáng tạo nghệ thuật. Theo Hêghen, người nghệ sĩ phải rút ra từ cuộc sống một chất lượng cho nghệ thuật chứ không phải là có tư tưởng trừu tượng. 19 nghệ thuật không phải là tư tưởng mà là có bố cục bề ngoài, là sức mạnh của sáng tạo.
Cho nên, người nghệ sĩ buộc phải thấy nhiều, nghe nhiều, hiểu biết nhiều và thường xuyên suy ngẫm để nắm được thực chất mà truyền đạt lại bằng những hình tượng sinh động. Đồng thời, ông yêu cầu nghệ sĩ phải có phong cách, thiếu phong cách thì không có sáng tạo nghệ thuật. Khác với các nhà mỹ học tiền bối và đương thời, N.Tsécnưsépxki (1828 - 1889), đã xác lập một con đường mới cho mỹ học của mình – con đường tìm cái đẹp trong cuộc sống. Với mỹ học duy vật nhân bản của mình, Tsécnưsépxki được đánh giá là một trong số những nhà mỹ học vĩ đại vào giai đoạn trước Mác.
Tư tưởng mỹ học của ông đã đặt nền tảng cho sự ra đời của mỹ học Mác – Lênin sau này. Toàn bộ tư tưởng mỹ học của Tsécnưsépxki được thể hiện tập trung trong tác phẩm “Quan hệ thẩm mỹ của nghệ thuật đối với hiện thực”, vốn là luận án tiến sĩ của ông. Các tư tưởng mỹ học cơ bản trong tác phẩm này đã phân tích một cách toàn diện trên lập trường duy vật nhân bản các vấn đề mà mỹ học Hêghen đã nêu, đồng thời cũng cho thấy sự ảnh hưởng của triết học L.Phoiơbắc đối với mỹ học của ông rất sâu sắc. Trong khi đồng ý với quan niệm của Hêghen, rằng: “Đẹp là sự biểu hiện đầy đủ của ý niệm trong một đối tượng riêng lẻ”, Tsécnưsépxki cũng đã phê phán ý tưởng của Hêghen về “cái đẹp là sự thống nhất giữa ý niệm và hình tượng”, vì ông cho rằng ý tưởng này mới chỉ nói về cái đẹp của tác phẩm nghệ thuật mà thôi, không phải nói về cái đẹp của tự nhiên.
Tsécnưsépxki cho rằng, xây dựng cái mới khó hơn phá vỡ cái cũ. Những quan niệm về thẩm mỹ có thể hài lòng người này nhưng chưa chắc làm thỏa mãn người kia. Tuy vậy, mỹ học cần phải hướng tới cuộc sống hiện thực chứ không phải hướng về thế giới ý niệm. Từ đó, ông đưa ra định nghĩa của mình về cái đẹp: “Một thực thể đẹp là thực thể trong đó ta nhìn thấy cuộc 20 sống đúng như quan niệm của chúng ta; một đối tượng đẹp là đối tượng trong đó cuộc sống được thể hiện hay nó nhắc ta nghĩ tới cuộc sống”.23] Quan điểm mỹ học của Tsécnưsépxki thống nhất với quan điểm đời sống, cuộc sống chứa đựng muôn vàn hình thức của cái đẹp.
Cuộc sống là trí tuệ, là lao động và sáng tạo. Ông cho rằng, do xuất phát từ các lý tưởng xã hội khác nhau nên quan niệm thẩm mỹ cũng không giống nhau giữa các giai cấp, các dân tộc và các thời đại. Ngoài những tư tưởng quan trọng về các phạm trù mỹ học cơ bản, Tsécnưsépxki còn đặt cơ sở cho các quan niệm duy vật về nghệ thuật. Ông quan niệm, nghệ thuật vừa là vương quốc của cái đẹp, đồng thời cũng là sự phản ánh nhiều mặt của đời sống; nghệ thuật là phương tiện chủ yếu và rất quan trọng để nhận thức cuộc sống, chứ không phải nhằm mục đích mua vui.
Từ đó, Tsécnưsépxki xác lập quan điểm của mình về nguồn gốc của cái đẹp và cũng là của ý thức thẩm mỹ: cái đẹp tự nhiên là nguồn gốc của cái đẹp trong nghệ thuật và thực tại thẩm mỹ là cội nguồn của hình thái ý thức này. Như vậy, có thể nói rằng, vấn đề ý thức thẩm mỹ của Tsécnưsépxki được xây dựng và triển khai trên lập trường duy vật nhân bản, theo chủ thuyết triết học của L.Phoiơbắc, coi cái đẹp bắt nguồn từ trong hiện thực, và giành sự quan tâm nhiều hơn đối với tính nhân bản của cái đẹp trong đời sống xã hội. Đồng thời, ông cũng khẳng định rằng, tất cả các hiện tượng thẩm mỹ, mà đặc biệt là cái đẹp đều có nguồn gốc ở trong cuộc sống của con người, hoàn toàn không phải xuất phát từ thế giới ý niệm. Theo Tsécnưsépxki, ý thức thẩm mỹ có vai trò hết sức quan trọng trong việc giúp con người có một cảm giác hoan hỉ, trong sáng như khi ta gặp mặt người yêu, giúp con người thêm lạc quan, biết thưởng thức và yêu cuộc sống một cách vô tư.
21 Tóm lại, Tsécnưsépxki đã cố gắng xác định cho các hiện tượng thẩm mỹ (cái đẹp, cái bi, cái hài,…) tính chất khách quan, vì ông coi chúng là những thuộc tính của cuộc sống và của hiện thực. Nhưng rõ ràng, Tsécnưsépxki đã không nhìn thấy sự khác nhau giữa sự vật là một thực thể, còn cái đẹp như là giá trị. Trong khi Tsécnưsépxki khẳng định, ở đâu có vật chất là có cái thẩm mỹ, mọi cuộc sống đều đẹp, ông đã bộc lộ cái nhìn thiếu biện chứng của mình, song, những tư tưởng đó đã góp phần quan trọng đáng kể trong việc chống lại quan niệm duy tâm và thần bí về cái đẹp, cũng như những hiện tượng thẩm mỹ khác. Quan niệm về ý thức thẩm mỹ trong lịch sử tư tưởng mỹ học phương Đông Lịch sử tư tưởng phương Đông đã ghi nhận và chứng minh cho sự xuất hiện và phát triển rất sớm của hai nền văn minh cổ đại, Ấn Độ và Trung Hoa, với những trường phái triết học đa dạng và phong phú.
Chính từ trong những học thuyết đó, tư tưởng về ý thức thẩm mỹ cũng như những vấn đề liên quan đến giáo dục thẩm mỹ đã được đề cập đến. Mỹ học Phật giáo là một bộ phận tiêu biểu và nổi trội trong kho tàng mỹ học nhân loại nói chung và mỹ học Ấn Độ nói riêng. Trước tiên, chúng ta cần có cái nhìn tổng quan về lịch sử tư tưởng mỹ học Ấn Độ làm cơ sở để nhận thức vấn đề ý thức thẩm mỹ trong tư tưởng mỹ học Phật giáo.