Chương I: Cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực Giáo dục và Đào tạo 3 Chương II: Thực trạng đội ngũ giảng viên và phát triển đội ngũ giảng viên trường Đại học Lao động – Xã hội Chương III: Giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên Đại học Lao động – Xã hội. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 1. Khái quát chung về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực 1. Các khái niệm cơ bản 1.
Khái niệm về nguồn nhân lực Nguồn nhân lực có nhiều định nghĩa cũng như cách hiểu khác nhau. Theo định nghĩa của liên hợp quốc trong đánh giá về những tác động của toàn cầu hóa đến nguồn nhân lực (2009) : “nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế, xã hội trong một cộng đồng”. Theo định nghĩa tương tự, nguồn nhân lực được hiểu theo nghĩa “bao gồm kinh nghiệm, kỹ năng, trình độ đào tạo và những sự tận tâm, nỗ lực hay bất cứ đặc điểm nào khác tạo ra giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh cho tổ chức của những người lao động” [12, George Milkovich và John Boudreau, 2009]. Nguồn nhân lực của doanh nghiệp bao gồm toàn bộ người lao động tham gia bất cứ một hoạt động nào của tổ chức, bất kể vai trò của họ là gì.
Theo giáo trình kinh tế nguồn nhân lực của Trường đại học Kinh tế quốc dân thì: “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định.TS Trần Xuân Cầu, PGS.TS Mai Quốc Chánh, 2012]. Như vậy cho dù hiểu theo nghĩa nào thì nguồn nhân lực cũng được coi như là sức mạnh tổng hợp từ sức mạnh của các loại lao động cũng như từ khả năng lao động của từng cá nhân trong tổ chức như sức khỏe, trình độ, sự hiểu biết, kinh nghiệm, lòng tin, nhân cách. Khái niệm về quản trị nguồn nhân lực Cũng tương tự như khái niệm về nguồn nhân lực, khái niệm về quản trị nguồn nhân lực cũng có những định nghĩa khác nhau. Để đi đến định nghĩa về quản trị nguồn nhân lực, điều chính là tìm hiểu các nhà quản trị nguồn nhân lực thực hiện các chức năng chủ yếu nào và ý nghĩa của việc thực hiện các chức năng này như thế nào đối với tổ chức “Quản trị nguồn nhân lực là sự phối hợp một cách tổng thể các hoạt động hoạch định, tuyển mộ, tuyển chọn, duy trì, phát triển , động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tài nguyên nhân lực thông qua tổ chức, nhằm đạt được mục tiêu chiến lược và định hướng viễn cảnh của tổ chức” [7, Nguyễn Hữu Thân, 2008] Quản trị nguồn nhân lực là thiết kế các chính sách và thực hiện các lĩnh vực hoạt động nhằm làm cho con người đóng góp giá trị hữu hiệu nhất cho tổ chức, bao gồm các lĩnh vực như hoạch định nguồn nhân lực, phân tích và thiết kế công việc, chiêu mộ và lựa chọn, đào tạo và phát triển, đánh giá thành tích và thù lao; sức khoẻ và an toàn lao động và tương quan lao động,.” [8, Lưu Trường Văn, 2002] Như vậy, tựu trung lại, quản trị nguồn nhân lực bao gồm các chức năng chủ yếu là phân tích công việc, hoạch định nhân sự, tuyển mộ, tuyển chọn, đào tạo và phát triển, tạo điều kiện cho con người trong tổ chức được đánh giá thành tích và được trả thù lao, được đảm bảo sức khỏe và an toàn lao động và mục tiêu cuối cùng của nhà quản trị nhân sự là mang lại lợi ích cho người lao động và đạt được mục tiêu tổ chức đề ra.
Khái niệm về phát triển nguồn nhân lực Phát triển nguồn nhân lực (Human resource development HRD) theo từ điển Long man Business dictionary (2007) là : “ một bộ phận của quản trị nguồn nhân lực chú trọng đến khâu đào tạo và phát triển đội ngũ nhân viên. Phát triển nhân sự bao gồm việc đào tạo các cá nhân sau khi họ được thu nhận vào làm việc cho tổ chức, cung cấp cho họ những cơ hội học tập các kỹ năng mới, tạo điều kiện để nhân 6 họ thực hiện nhiệm vụ của mình trong tổ chức cùng với các hoạt động mang tính phát triển khác. Theo một định nghĩa khác, phát triển NNL là những hoạt động giúp cho nhân viên phát triển những kỹ năng cá nhân và kỹ năng tổ chức, phát triển kiến thức, hiểu biết và những khả năng. Phát triển nguồn nhân lực bao gồm những hoạt động như huấn luyện đào tạo, phát triển sự nghiệp, thúc đẩy và kiểm soát việc thực hiện nhiệm vụ, huấn luyện,lập kế hoạch liên tục, xác định những nhân viên chủ chốt, hỗ trợ tài chính và phát triển tổ chức.com) Theo giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực, trường đại học Kinh tế Quốc dân: “Phát triển nguồn nhân lực là quá trình phát triển thể lực, trí lực, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức tay nghề, tính năng động xã hội và sức sáng tạo của con người, nền văn hoá; truyền thống lịch sử.Với cách tiếp cận phát triển từ góc độ xã hội, phát triển nguồn nhân lực là quá trình tăng lên về mặt số lượng (quy mô) nguồn nhân lực và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo ra cơ cấu nguồn nhân lực ngày càng hợp lý.
Với cách tiếp cận phát triển từ góc độ cá nhân, phát triển nguồn nhân lực là quá trình làm cho con người trưởng thành, có năng lực xã hội (thể lực, trí lực, nhân cách) và tính năng động xã hội cao.TS Trần Xuân Cầu, PGS.TS Mai Quốc Chánh, 2012]. Như vậy, Phát triển nguồn nhân lực là phát triển con người như là một đơn vị động lực của nguồn lực, là tích tụ, phát huy, sử dụng tiềm năng thành sức lao động xã hội tạo ra giá trị cho mình và cho người. Phát triển nguồn nhân lực con người trước hết là tạo cho con người năng lực lao động làm cho con người tự tạo và phát triển bản thân thực sự là chủ thể của lao động, đủ trách nhiệm phát huy năng lực, tạo ra sản phẩm lao động, trên cơ sở các chính sách sử dụng lao động, sự vận hành của thị trường lao động, thị trường việc làm và chế độ quản lý nguồn nhân lực. 7 Phát triển nguồn nhân lực thực chất là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực bao gồm ba nội dung chính là nâng cao trí lực, nâng cao thể lực và nâng cao phẩm chất, đạo đức, tư tưởng, tác phong làm việc: - Nâng cao trí lực (tri thức): Nâng cao tri thức bao gồm nâng cao trình độ văn hoá, trình độ quản lý và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, là bộ phận quyết định chất lượng nguồn nhân lực.
Các tổ chức thuộc các nước công nghiệp phát triển đang đi đầu trong việc nâng cao trí lực. Do đó, hầu hết các phát minh về công nghệ, các sản phẩm mang hàm lượng tri thức cao là từ các nước công nghiệp. Ngày nay, tất cả các tổ chức trên thế giới đều quan tâm dến giáo dục đào tạo. Giáo dục nâng cao trình độ văn hoá và khả năng nhận thức của con người.
Từ đó, họ mới có khả năng tham gia vào các chương trình đào tạo về quản lý, về chuyên môn, nghiệp vụ và mới có khả năng lao động có kỹ thuật, và có khả năng sáng tạo. - Nâng cao thể lực: Cơ thể có cường tráng thì tinh thần mới sảng khoái, tiếp thu kiến thức văn hoá, chuyên môn nghiệp vụ tốt và cuối cùng là lao động có hiệu quả. Bởi vây, cần làm tốt công tác chăm sóc sức khoẻ, nâng cao thể lực, điều kiện làm việc, chế độ nghỉ ngơi, thu nhập bình quân, chế độ y tế. - Nâng cao phẩm chất, đạo đức, tư tưởng, tác phong làm việc: Song song với trí thức và kỹ năng nghề nghiệp, để nâng cao năng suất lao động đòi hỏi con người phải có tính tự giác, tinh thần hợp tác, tính cộng đồng, tác phong công nghiệp.
Đó chính là thể hiện phẩm chất, đạo đức, tư tưởng của người lao động trong thời đại mới. Như vậy, dù cho hiểu theo định nghĩa như thế nào thì trọng tâm của phát triển nguồn nhân lực là phát triển lực lượng lao động một cách tốt nhất để tổ chức và cá nhân người lao động có thể thực hiện được các mục tiêu công việc của họ. Mục tiêu phát triển nguồn nhân lực trong cơ sở đào tạo Trong phạm vi cơ sở đào tạo đại học, phát triển nguồn nhân lực có thể hiểu như sau: 8 Phát triển nguồn nhân lực là thực hiện tốt việc thiết lập và thực hiện các chính sách và các công cụ quản lý làm chức năng quản trị nguồn nhân lực, nhằm xây dựng được một bộ máy nhân sự ổn định có cơ cấu tổ chức tốt, đủ về số lượng và có năng lực trình độ chuyên môn thích hợp đáp ứng được theo nhu cầu của từng giai đoạn, từng thời kỳ và chiến lược phát triển của cơ sở đào tạo. Phát triển nguồn nhân lực là nhằm hướng tới các mục tiêu cơ bản sau: - Thu hút và tuyển chọn được một bộ máy tổ chức có đủ về số lượng và chất lượng để hoàn thành các công việc được giao.
- Sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực nhằm tăng năng suất lao động và nâng cao tính hiệu quả của tổ chức. - Người lao động được kích thích và động viên nhiều nhất tại nơi làm việc và yên tâm, trung thành, nhiệt tình và tâm huyết với tổ chức. Vai trò của nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực 1. Vai trò của nguồn nhân lực đối với sự phát triển kinh tế xã hội Sự tăng trưởng của một quốc gia tuỳ thuộc vào việc quốc gia đó sử dụng như thế nào các nguồn vốn: vốn con người (nguồn nhân lực), vốn vật chất và tài nguyên.
Trong đó, vốn con người đóng vai trò quyết định đến sự thành đạt của mỗi tổ chức, đến sự thành công của mọi hoạt động của tổ chức đó. Vì thế, không phải vô cớ người ta khẳng định yếu tố nguồn nhân lực là nguồn tài nguyên quý báu nhất của mọi tổ chức. Sở dĩ nguồn nhân lực trở thành một trong những nguồn lực quan trọng nhất cuả sự phát triển kinh tế – xã hội, chính là bắt nguồn từ vai trò của yếu tố con người.