Chương 1: Cơ sở lý luận về tạo động lực Chương 2: Thực trạng công tác tạo động lực cho CBNV BHXH tỉnh Quảng Bình Chương 3: Giải pháp tạo động lực cho CBNV BHXH Quảng Bình. 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ ĐỘNG LỰC 1. Nhu cầu Nhu cầu là một hiện tƣợng tâm lý của con ngƣời, là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con ngƣời về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển.
Tùy theo trình độ nhận thức, môi trƣờng sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi ngƣời có những nhu cầu khác nhau. Vấn đề về nhu cầu đ đƣợc nhiều nhà khoa học trên thế giới đề cập và nghiên cứu. Và nhu cầu đƣợc hiểu rằng: nhu cầu là hiện tƣợng phức tạp, đa diện, đặc trƣng cho mọi sinh vật. Sự hiện diện của nhu cầu ở bất kì sinh vật nào, hoặc ở bất kì x hội nào đƣợc xem nhƣ cơ thể sống phức tạp, là đặc điểm để phân biệt chủ thể đó với môi trƣờng xung quanh.
Chính tính đa dạng của đối tƣợng tạo nên sự vô hạn của nhu cầu. Từ điển Bách khoa toàn thƣ triết học của Liên Bang Nga định nghĩa “Nhu cầu là sự cần hay sự thiếu hụt một cái gì đó thiết yếu để duy trì hoạt động sống của một cá nhân con người, một nhóm xã hội hay xã hội nói chung, là động cơ bên trong của tính tích cực”. Theo giáo trình Tâm lý học quản lý của PGS.TS Vũ Dũng (2006), tác giả A.Kôvaliôp định nghĩa: "Nhu cầu là sự đòi hỏi của các cá nhân và của các nhóm xã hội khác nhau muốn có những điều kiện nhất định để sống và phát triển".TS Trần Xuân Cầu, Đại học kinh tế Quốc dân cho rằng: nhu cầu đƣợc hiểu là một hiện tƣợng tâm lý của con ngƣời, là đòi hỏi, mong ƣớc của con ngƣời xuất phát từ những nguyên nhân khác nhau. Đặc tính của nhu cầu là phong phú, đa dạng và có thể thay đổi theo bối 9 cảnh và môi trƣờng sống, thể hiện những đòi hỏi của cá nhân để tồn tại và phát triển.
Đó là những đòi hỏi đi từ thấp lên cao. Nhu cầu về vật chất và nhu cầu về tinh thần là hai nhóm nhu cầu cơ bản và cần thiết của mỗi con ngƣời. Nhu cầu vật chất là những nhu cầu cơ bản và thiết yếu về vật chất để tồn tại và phát triển của con ngƣời, muốn thỏa m n đƣợc điều đó thì yếu tố tài chính chiếm phần quan trọng, nhu cầu càng cao thì đòi hỏi yếu tố tài chính càng cao và ngƣợc lại. Nhu cầu tinh thần thể hiện mong muốn đƣợc thỏa m n về tâm lý.
Tùy thuộc vào từng loại công việc, cách ứng xử của nhà quản lý và tập thể lao động mà mức độ thỏa m n các nhu cầu tinh thần có thể khác nhau. Động lực Đ có rất nhiều định nghĩa khác nhau về động lực từ các nghiên cứu về động lực của các tác giả: “Động lực làm việc là sự khao khát và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức”, Herzberg, F. Nguyễn Vân Điềm và PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân trong cuốn “Giáo trình quản trị nhân lực” (2007), “Động lực được hiểu là sự khát khao, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt được các mục tiêu, kết quả nào đó. Hay theo giáo trình Hành vi tổ chức của PGS.TS Bùi Anh Tuấn- PGS.TS Phạm Thúy Hƣơng (2009) “ Động lực làm việc là những nhân tố bên trong kích thích con người làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao.
Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động” [9, tr.85] Từ những định nghĩa trên ta có thể đƣa ra một cách hiểu chung nhất về động lực nhƣ sau: động lực là sự khát khao và tự nguyện của con ngƣời nhằm tăng cƣờng sự nỗ lực để đạt đƣợc mục đích hay một kết quả cụ thể, động lực 10 bao gồm tất cả những lý do khiến con ngƣời hành động. Các lý thuyết về động lực đều xoay quanh vấn đề xem xét nhu cầu của con ngƣời. Nhƣ vậy, động lực xuất phát từ bản thân của mỗi con ngƣời. Khi con ngƣời ở những vị trí khác nhau, với những đặc điểm tâm lý khác nhau sẽ có những mục tiêu mong muốn khác nhau.
Chính vì vậy, nhà quản lý cần có những cách tạo động lực và tác động khác nhau để ngƣời lao động có thể làm việc đạt kết quả cao nhất cho tổ chức. Muốn đạt đƣợc điều đó, trƣớc hết nhà l nh đạo cần phải tìm hiểu CBNV họ đang mong muốn nhu cầu gì và tạo điều kiện để họ có thể đạt đƣợc sự thỏa mãn các nhu cầu đó. Động lực lao động Để tổ chức đạt hiệu quả cao trong công việc, ngƣời quản lý cần có những chính sách và phƣơng án tối ƣu để tạo động lực cho ngƣời lao động khiến họ cảm thấy tích cực làm việc hơn, đam mê và sáng tạo hơn. Theo giáo trình Quản trị nhân lực của Ths.
Nguyễn Vân Điềm và PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân: “Động lực lao động là sự khao khát, tự nguyện của CBNV để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới đạt mục tiêu của tổ chức”. Động lực lao động xuất phát từ trong suy nghĩ, ý thức và thái độ ngƣời lao động đối với tổ chức. Mỗi CBNV thực hiện từng công việc khác nhau thì có thể có động lực làm việc khác nhau. Có thể hiểu về động lực làm việc một cách chung nhất: động lực làm việc là những nhân tố bên trong kích thích con ngƣời tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao.
Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức cũng nhƣ bản thân ngƣời lao động. Tạo động lực lao động Tạo động lực lao động là việc sử dụng các chính sách, công cụ tác động từ các nhà quản lý đến ngƣời lao động, còn kết quả của tạo động lực là động lực của ngƣời lao động. 11 “Tạo động lực lao động được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong công việc” theo giáo trình Hành vi tổ chức của tác giả PGS.TS Bùi Anh Tuấn – PGS.TS Phạm Thúy Hƣơng [9, tr. Giáo trình Quản trị Cán bộ viên chức viết rằng: tạo động lực lao động là tổng hợp các biện pháp và cách ứng xử của tổ chức, của các nhà quản lý nhằm tạo ra sự khao khát và tự nguyện của cán bộ viên chức cố gắng phấn đấu để đạt đƣợc các mục tiêu của tổ chức.
Nhƣ vậy, tạo động lực là việc áp dụng các chính sách, các công cụ quản lý tác động tới động lực làm việc của CBNV. Các chính sách và công cụ để tạo động lực có thể là các chính sách tài chính và phi tài chính, kết quả của tạo động lực thể hiện ở thái độ làm việc của CBNV đối với công việc của tổ chức. MỘT SỐ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN TẠO ĐỘNG LỰC 1. Lý thuyết thứ bậc nhu cầu của Abraham Maslow “Tháp nhu cầu” của Maslow đƣợc nhà tâm lý học ngƣời Anh Abraham Maslow (1908-1970) đƣa ra vào năm 1943 trong bài viết “A Theory of Human Motivation” là lý thuyết có tầm quan trọng của quản trị kinh doanh.
Theo Maslow, nhu cầu cơ bản và nhu cầu bậc cao là hai nhóm nhu cầu chính của mỗi con ngƣời. Cấu trúc tháp nhu cầu có 5 tầng, trong đó, những nhu cầu đƣợc liệt kê theo một trật tự thứ bậc hình tháp. Đáy hình tháp thể hiện những nhu cầu bậc thấp nhƣ nhu cầu sinh lý và nhu cầu an toàn. Các nhu cầu bậc cao sẽ phát sinh khi các nhu cầu bậc thấp đ đƣợc thỏa m n đó là nhu cầu xã hội, nhu cầu đƣợc tôn trọng và nhu cầu đƣợc hoàn thiện.
12 Các nhu cầu đƣợc thể hiện nhƣ sau: Hình 1. Tháp nhu cầu của Maslow - Nhu cầu về sinh học: đây là nhu cầu cơ bản nhất của mỗi con ngƣời bao gồm: thức ăn, nƣớc uống, không khí…Trong một tổ chức, vần đề này đƣợc phản ánh thông qua sự hài lòng về bầu không khí, không gian, nhiệt độ tại nơi làm việc và tiền lƣơng để đảm bảo sinh hoạt hàng ngày của ngƣời lao động. - Nhu cầu về an toàn: là những nhu cầu cần đƣợc an toàn về cả vật chất lẫn tinh thần, không có bất cứ một đe dọa nào, không có bạo lực và đƣợc sống trong xã hội có trật tự (an toàn trong công việc, an toàn nghề nghiệp, tài sản.) - Nhu cầu xã hội: Là nhu cầu thể hiện mong muốn đƣợc xây dựng các mối quan hệ với những ngƣời khác trong công việc và ngoài xã hội thông qua các cuộc giao lƣu, gặp gỡ, tiếp xúc. - Nhu cầu được tôn trọng: Là nhu cầu đƣợc đánh giá và công nhận, đƣợc mọi ngƣời coi trọng và ghi nhận trong việc đóng góp công sức và thành quả của CBNV đối với tổ chức.
- Nhu cầu tự hoàn thiện: Là nhu cầu cao nhất thể hiện mong muốn đƣợc phát triển toàn diện cả về thể lực và trí lực của mỗi cá nhân. Nhà quản lý 13 cần tạo cơ hội để ngƣời lao động có thể phát triển những thế mạnh cá nhân. Điều này đ đƣợc Maslow khẳng định: “Về nguyên tắc con người cần được thỏa mãn nhu cầu ở bậc thấp hơn trước khi được khyến khích thỏa mãn những nhu cầu ở bậc cao hơn. Mặc dù, mỗi cá nhân CBNV có hệ thống nhu cầu khác nhau và nó được thỏa mãn bằng những cách, những phương tiện khác nhau.
Người quản lý cần phải quan tâm đến các nhu cầu của CBNV để từ đó có biện pháp để thỏa mãn nhu cầu đó một cách hợp lý.” Từ lý thuyết này, để tạo động lực cho CBNV thì nhà quản lý phải biết nhân viên của họ đang ở cấp bậc nhu cầu nào để đƣa ra giải pháp phù hợp nhằm thỏa m n nhu cầu nhân viên đồng thời bảo đảm đạt đƣợc các mục tiêu của tổ chức. Lý thuyết hai nhân tố của Herzberg Thuyết hai nhân tố của Frederick Herzberg chủ yếu dựa trên các kết quả nghiên cứu và phân tích điều tra đƣợc thực hiện ở Pittsburgh, Pennsylvania. Herzberg phân loại động cơ dựa vào hai yếu tố: các yếu tố thúc đẩy và các yếu tố duy trì (Herzberg, Mausner, và Snyderman 1959).