Chương 1 tổng hợp các định nghĩa, lý thuyết liên quan và các nghiên cứu từ trước đến nay về các yếu tố ảnh hưởng đến sự cam kết để làm tiền đề tìm hiểu sâu hơn các yếu tố nào là yếu tố chính hiện nay ảnh hưởng đến sự cam kết của nhân viên công ty Performics Việt Nam.1 Các định nghĩa, khái niệm, đặc điểm: Trong các khái niệm hiện nay, sự cam kết nói chung được định nghĩa là phạm vi mà một bên tin tưởng và cảm nhận được rằng mối quan hệ có giá trị, đáng tin cậy và xứng đáng để duy trì và phát triển. Vậy sự cam kết của nhân viên sẽ được định nghĩa như thế nào? Qua các tài liệu nghiên cứu học thuật mà tác giả tìm hiểu thì sự cam kết của người lao động được định nghĩa bằng nhiều cách khác nhau. Trong đó, nghiên cứu của tác giả Bolognini (2003) thì sự cam kết của nhân viên là sự kết nối giữa nhân viên với tổ chức. Trong bài nghiên cứu của Kahn (1990, p.694) sự cam kết cá nhân được định nghĩa như là “Sự khai thác bản thân của những thành viên của trong tổ chức với vai trò công việc của họ; trong sự cam kết, con người làm và thể hiện bản thân họ một cách vật chất, một cách có nhận thức và một cách cảm xúc trong khi thể hiện vai trò”.
Vì thế, dựa vào Kahn (1990,1992), có thể thấy sự cam kết nghĩa là hiện diện một cách tâm lý khi nhận và thể hiện vai trò của tổ chức. Cam kết cũng có thể được xác định là sự khao khát của nhân viên trong việc duy trì vị trí, sự tham gia, sự trao quyền và các cảm xúc đi kèm của họ trong tổ chức (Mowday et al, 1979). Như vậy, tóm gọn lại sự cam kết là một sự mong muốn duy trì vị trí, sự tham gia trong tổ chức, thuộc về cảm xúc của nhân viên đối với mục tiêu của tổ chức. Theo nghiên cứu của Meyer và Allen (1991) chỉ ra rằng: những nhân viên gắn kết bằng tình cảm với tổ chức thường sẽ ở lại với tổ chức vì họ muốn như vậy, những nhân viên gắn kết trên cơ sở tính toán cân nhắc lợi ích của cá nhân với tổ 14 chức nên họ sẽ ở lại với tổ chức vì họ cần như vậy và những nhân viên gắn bó vì trách nhiệm sẽ ở lại tổ chức vì họ cảm thấy họ phải làm như vậy.
Như vậy, sự gắn kết của nhân viên đối với tổ chức được thể hiện ở 3 kiểu tâm lý khác nhau. Cam kết tình cảm (affective commitment) Tình cảm đối với công việc của bạn xảy ra khi bạn cảm thấy có gắn bó tình cảm của mình với công ty và công việc bạn làm. Bạn rất có thể sẽ xác định với các mục tiêu và giá trị của tổ chức, và bạn thực sự muốn ở đó. Nếu bạn đang thưởng thức công việc của mình, bạn sẽ cảm thấy tốt và hài lòng với công việc của bạn.
Đổi lại, điều này làm tăng sự hài lòng công việc có thể sẽ thêm vào cảm giác của bạn cam kết tình cảm. Còn Mowday et al. (1982) nhận thấy rằng tiền đề của cam kết tình cảm gồm 4 yếu tố: tính cách cá nhân, cơ cấu tổ chức, tính cách liên quan đến công việc và kinh nghiệm làm việc. Cam kết liên tục (continuance commitment) Loại cam kết này xảy ra khi bạn cân nhắc những ưu và nhược điểm của việc rời khỏi tổ chức của bạn.
Bạn có thể cảm thấy rằng bạn cần phải ở lại công ty của bạn, bởi vì sự mất mát mà bạn sẽ trải nghiệm khi rời bỏ công việc là lớn hơn lợi ích mà bạn nghĩ rằng bạn có thể đạt được trong một vai trò mới. Một công việc mới và trong tổ chức mới. Những thiệt hại hay mất mát nhận thấy này, có thể là tiền (bạn sẽ mất tiền lương và các phúc lợi); sự chuyên nghiệp và chuyên môn (bạn có thể mất thâm niên hoặc các kỹ năng liên quan đến vai trò mà bạn đã dành nhiều năm để có được); hoặc có thể là mối quan hệ xã hội (bạn sẽ mất tình bạn, đồng nghiệp hoặc đồng minh, khách hàng thân thiết) (Becker, 1960). Ngoài ra, mức độ nghiêm trọng của những "tổn thất" này thường tăng theo tuổi tác và kinh nghiệm.
Bạn có nhiều khả năng có cam kết liên tục nếu bạn đang ở trong một vai trò thành công, hoặc nếu bạn đã có một số đóng góp và công hiến nhất định trong một tổ chức. (Meyer & Allen, 1984) 15 Cam kết chuẩn (normative commitment) Loại cam kết này xảy ra khi bạn cảm thấy có nghĩa vụ đối với tổ chức của mình, ngay cả khi bạn không hài lòng về vai trò của mình, hoặc thậm chí nếu bạn muốn theo đuổi các cơ hội tốt hơn. Bạn cảm thấy rằng bạn nên ở lại với tổ chức của bạn, bởi vì nó là điều đúng đắn nên làm (Wiener, 1982). Nghĩa vụ này có thể bắt nguồn từ nhiều yếu tố.
Bạn có thể cảm thấy rằng bạn nên ở lại với tổ chức của bạn bởi vì tổ chức đã đầu tư tiền bạc hoặc thời gian trong quá trình đào tạo và làm việc của bạn. Hoặc có lẽ tổ chức đã cung cấp hay trao cho bạn một phần thưởng trước, chẳng hạn như trả tiền học phí đại học của bạn hay một học bổng nào đó với lời hứa hẹn của bạn sau này làm việc tại tổ chức. Nghĩa vụ này cũng có thể do kết quả của việc giáo dục. Ví dụ, gia đình bạn có thể đã khuyên nhủ hay nhấn mạnh rằng bạn nên ở lại làm việc và trung thành với tổ chức của bạn.
Ba loại cam kết này không loại trừ lẫn nhau. Một người có thể trải nghiệm cả ba, hoặc hai trong ba, ở mức độ khác nhau. Trong số các kiểu tâm lý gắn kết với tổ chức, sự gắn kết bằng tình cảm hoặc lòng trung thành của nhân viên được các tổ chức mong muốn nhiều nhất và sự gắn kết này cũng mang lại nhiều lợi ích nhất. Nghiên cứu của Mathieu và Zajac (1990) cho rằng tiền đề để nhân viên gắn kết với tổ chức bằng tình cảm thường được phân loại thành các đặc điểm cá nhân, công việc, kinh nghiệm làm việc và đặc điểm tổ chức.
Đặc điểm cá nhân đề cập đến giới tính, tuổi tác, giáo dục, tình trạng hôn nhân, mức độ công việc và thời gian công tác. Đặc điểm công việc tập trung vào sự đa dạng trong các loại kỹ năng làm việc, tính tự chủ trong nhiệm vụ, thách thức công việc và phạm vi công việc. Đặc điểm của tổ chức bao gồm các chính sách tổ chức, tính hỗ trợ, thông tin và trao đổi, sự công nhận. Trong những năm qua, các kết quả nghiên cứu cho thấy, trong số các loại đặc điểm này, đặc điểm tổ chức có khả năng dự đoán sự gắn kết tình cảm mạnh nhất.
16 Trong những năm gần đây, cách phân loại này đã được nghiên cứu và làm rõ hơn nữa, xem xét mức độ môi trường văn hóa do tổ chức tạo ra làm cho nhân viên cảm thấy gắn kết và tạo cho họ xác định được cảm giác đó. O'Malley (2000) cho rằng việc rà soát lại các lý thuyết về cam kết đã đưa ra năm yếu tố liên quan đến sự phát triển cam kết của nhân viên: (1) Cam kết đam mê: Lợi ích và giá trị của tổ chức tương thích với lợi ích của nhân viên, và nhân viên cảm thấy được chấp nhận bởi môi trường văn hóa của tổ chức; (2) Cam kết liên kết: Mối quan hệ giữa các thành viên trong tổ chức làm tăng tình cảm của nhân viên. Nhân viên cảm thấy mình có liên kết với tổ chức; (3) Cam kết đạo đức: Nhân viên cảm nhận tổ chức đứng về phía họ và tổ chức gợi lên một cảm giác nghĩa vụ với nhau trong đó cả tổ chức và nhân viên cảm thấy có trách nhiệm với bên còn lại. Loại cam kết này cũng thường được đề cập đến trong tài liệu như là Cam kết Chuẩn; (4) Cam kết tình cảm: Nhân viên có được sự hài lòng từ công việc và đồng nghiệp của họ, môi trường làm việc của họ hỗ trợ sự hài lòng đó.
Một số nhà nghiên cứu (ví dụ Allen và Meyer, 1991) cho rằng đây là hình thức quan trọng nhất của cam kết vì nó có những lợi ích tiềm năng nhất cho các tổ chức. Những nhân viên có cam kết cao về tình cảm là những người sẽ vượt qua nhiệm vụ vì lợi ích của tổ chức. Trong các lý thuyết gần đây, hình thức cam kết này còn được gọi là "sự tương tác" và là hình thức cam kết thường được các tổ chức dùng để đánh giá; (5) Cam kết cấu trúc: Nhân viên tin rằng họ tham gia vào một cuộc trao đổi kinh tế công bằng, trong đó họ được hưởng lợi từ mối quan hệ bằng những lợi ích vật chất. Có các cám dỗ để họ gia nhập vào và ở lại trong tổ chức.
Loại cam kết này cũng thường được đề cập đến trong tài liệu như là Cam kết Liên tục.2 Lợi ích của sự cam kết Những lợi ích về hiệu suất được tạo ra từ sự cam kết của nhân viên ngày càng tăng đã được chứng minh rộng rãi trong các tài liệu. Có thể liệt kê một số ít, bao gồm (1) Sự hài lòng công việc gia tăng (Vandenberg & Lance 1992); (2) Tăng hiệu suất công việc (Mathieu & Zajac, 1990); (3) Tăng tổng lợi nhuận cho cổ 17 đông (Walker Information Inc., 2000); (4) Tăng doanh thu (Barber et al, 1999); (5) Giảm nhảy việc của nhân viên (Cohen, 1991); (6) Giảm ý định rời bỏ công việc (Balfour & Wechsler, 1996); (7) Giảm ý định tìm kiếm các nhà tuyển dụng thay thế (Cohen, 1993); (8) Giảm sự vắng mặt (Cohen, 1993, Barber et al. Với những lợi ích trên, cam kết của nhân viên nên được xem như là một điều cần thiết trong kinh doanh. Các tổ chức gặp khó khăn trong việc duy trì và thay thế nhân viên có năng lực sẽ thấy khó để tối ưu hóa hiệu suất.
Không chỉ tốn các chi phí trực tiếp của quá trình tuyển dụng, mà còn có các chi phí ẩn khác như thời gian quản lý và năng suất bị mất do nhân viên mới mất thời gian để trở nên hiệu quả trong vai trò của họ. Nghiêm trọng hơn có thể gây hoang mang trong tổ chức khi nhân viên nghỉ quá nhiều, mất khách hàng do nhân viên lâu năm nghỉ kéo theo khách hàng qua công ty đối thủ. Thêm vào đó, nhân viên cam kết sẽ có nhiều khả năng tham gia vào các hành vi "ngoài vai trò" như sáng tạo hoặc tính đổi mới, điều này thường giúp tổ chức cạnh tranh (Katz & Kahn, 1978).