phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục và các bảng biểu, luận văn chia làm 3 chương: Chƣơng 1: Cơ cở lý luận phát triển nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực Tòa án nhân dân. Chƣơng 2: Thực trạng nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh. Chƣơng 3: Quan điểm, định hướng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh từ nay đến năm 2025. 9 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TÒA ÁN NHÂN DÂN 1.
Một số khái niệm cơ bản nguồn nhân lực 1. Các khái niệm nguồn nhân lực Có khá nhiều những định nghĩa khác nhau về nguồn nhân lực theo nhiều quan niệm khác nhau. “Nguồn lực con người” hay “nguồn nhân lực” là khái niệm được hình thành trong quá trình nghiên cứu, xem xét con người với tư cách là một nguồn lực, là động lực của sự phát triển. Các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước gần đây đã đề cập đến khái niệm nguồn nhân lực với các góc độ khác nhau.
Theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc: “Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng”. Việc quản lý và sử dụng nguồn lực con người khó khăn phức tạp hơn nhiều so với các nguồn lực khác bởi con người là một thực thể sinh vật - xã hội, rất nhạy cảm với những tác động qua lại của mọi mối quan hệ tự nhiên, kinh tế, xã hội diễn ra trong môi trường sống của họ. Theo David Begg: “Nguồn nhân lực là toàn bộ quá trình chuyên môn mà con người tích luỹ được, nó được đánh giá cao vì tiềm năng đem lại thu nhập trong tương lai. Cũng giống như nguồn lực vật chất, nguồn nhân lực là kết quả đầu tư trong quá khứ với mục đích đem lại thu nhập trong tương lai” (7, tr.
282) Theo tổ chức lao động quốc tế thì “Nguồn nhân lực” của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động. Nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn 10 cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển. Do đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường. Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động.
Ngân hàng thế giới lại cho rằng nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp của mỗi cá nhân. Như vậy, ở đây nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên. Đảng cộng sản Việt Nam thì xác định rất rõ ràng, con người hay nguồn nhân lực vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Đây là yếu tố số một, là nguồn cội, động lực chính tạo nên lực lượng sản xuất - nhân tố quyết định tốc độ và sự phát triển bền vững của phương thức sản xuất mới ở nước ta trong điều kiện hội nhập quốc tế.
Nguồn nhân lực phải có tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc vì chủ nghĩa xã hội, lao động chăm chỉ với lương tâm nghề nghiệp, có kỹ thuật, sáng tạo, năng suất cao vì lợi ích bản thân, gia đình, tập thể và xã hội, thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết trình độ chuyên môn, trình độ thẩm mỹ và thể lực. Như vậy, Đảng ta đã nhấn mạnh đến những phẩm chất cơ bản của con người mới phù hợp với thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đó là những con người có lý tưởng xã hội chủ nghĩa, yêu nước, phát triển toàn diện cả về thể lực, trí lực, đạo đức, thẩm mỹ, có ý chí và nhiệt tình lao động. Nói cách khác, theo Đảng thì nguồn nhân lực phải là con người vừa hồng vừa chuyên, vừa có đức vừa có tài. 11 Từ những khái niệm và các quan điểm nêu trên, nguồn nhân lực được đề cập trong khuôn khổ luận văn này được hiểu là khái niệm tổng hợp bao gồm các yếu tố số lượng, cơ cấu và chất lượng phát triển người lao động nói chung cả ở hiện tại cũng như trong tương lai của mỗi tổ chức, mỗi địa phương, mỗi quốc gia, khu vực và thế giới.
Các khái niệm nguồn nhân lực Tòa án nhân dân Nguồn nhân lực Tòa án nhân dân bao gồm đội ngũ cán bộ công chức phục vụ trong hoạt động của Tòa án, bao gồm Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký, Thẩm tra viên và các cán bộ khác. Dựa trên Luật tổ chức Tòa án nhân dân (năm 2014), Luật cán bộ công chức (năm 2008), Bộ luật tố tụng dân sự, Bộ luật tố tụng hình sự, Luật tố tụng hành chính, Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm của Tòa án nhân dân (được sửa đổi bổ sung năm 2011), ta có thể xác định rõ vị trí, vai trò, nhiệm vụ của từng cán bộ công chức trong Tòa án như sau : 1. Thẩm phán Thẩm phán là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Toà án. Thẩm phán là người thực hiện quyền xét xử chính tại một phiên tòa bên cạnh hội đồng xét xử gồm nhiều Thẩm phán, hoặc Hội thẩm nhân dân (tùy thuộc theo tính chất phiên toà).
Các loại Thẩm phán ở hệ thống Tòa án nước ta bao gồm Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Thẩm phán trung cấp; Thẩm phán sơ cấp. Hệ thống các Thẩm phán được phân loại theo từng khu vực như Tòa án nhân dân tối cao có Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là Tòa án nhân dân cấp tỉnh), Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là Tòa án nhân dân cấp huyện) có Thẩm phán trung cấp và Thẩm phán sơ cấp. Số lượng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Thẩm phán 12 trung cấp, Thẩm phán sơ cấp do Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định theo đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
Hội thẩm nhân dân Trong hệ thống pháp luật của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chế định Hội thẩm nhân dân là sự thể hiện nguyên tắc quyền lực của nhân dân trong hoạt động xét xử của Tòa án, thể hiện bản chất nhà nước của dân, do dân và vì dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân của nước ta. Hội thẩm nhân dân là người được bầu hoặc cử theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án. Hệ thống Hội thẩm theo từng khu vực gồm có Hội thẩm nhân dân Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Hội thẩm nhân dân Tòa án nhân dân cấp huyện (gọi chung là Hội thẩm nhân dân). Khi xét xử, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán chủ tọa và chỉ tuân theo pháp luật.
Hầu hết bản án sơ thẩm đều yêu cầu phải có sự tham gia của số lượng tối thiểu 2/3 thành viên của Hội đồng xét xử là các Hội thẩm nhân dân. Tuy nhiên, khác với các nguồn nhân lực còn lại, Hội thẩm nhân dân không nằm trong sự quản lý của đơn vị Tòa án nhân dân, chỉ tham gia hoạt động xét xử khi có yêu cầu. Chánh án Tòa án nhân dân địa phương chỉ có trách nhiệm quản lý Hội thẩm theo Quy chế về tổ chức và hoạt động của Hội thẩm. Hội thẩm nhân dân Tòa án nhân dân địa phương do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu theo sự giới thiệu của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp và do Hội đồng nhân dân cùng cấp miễn nhiệm, bãi nhiệm theo đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân cùng cấp sau khi thống nhất với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp (9, tr24;25).
Thư ký 13 Đội ngũ Thư ký Toà án các cấp ở nước ta trước đây được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau với trình độ chuyên môn nghiệp vụ không đồng đều như cử nhân luật, trung cấp pháp lý hoặc có bằng cấp chuyên môn không phải về pháp luật. Ngày nay, theo những quy định của Tòa án nhân dân tối cao thì chỉ có những người có trình độ cử nhân luật trở lên và có đủ các tiêu chuẩn khác như phẩm chất đạo đức tốt, đảm bảo sức khoẻ mới được tuyển dụng vào ngạch Thư ký Toà án. Hiện nay, số Thư ký Toà án (đã được tuyển dụng trước đây) chưa có trình độ cử nhân luật không nhiều, chủ yếu là vùng sâu, vùng xa và đang từng bước được đào tạo để có trình độ cử nhân luật hoặc tương đương. Thư ký Toà án làm việc tại Toà án có nhiệm vụ ghi chép, tống đạt văn bản tố tụng, nhận, giữ, sắp xếp, chuyển hồ sơ; hướng dẫn, phổ biến cho đương sự; và làm những công việc khác đảm bảo cho Thẩm phán Toà án thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật (23, tr21) Thư ký Tòa án có thể được phân công làm Thư ký phiên tòa.
Thư ký phiên tòa có nhiệm vụ ghi chép thành biên bản diễn biến của phiên toà; kiểm tra sự có mặt của những người tham gia tố tụng được triệu tập đến phiên toà, làm rõ lý do của những người vắng mặt và báo cáo danh sách đó cho Hội đồng xét xử; ghi lại một cách đầy đủ trong biên bản phiên toà các diễn biến tại phiên tòa từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc và cùng với chủ tọa phiên toà ký vào biên bản đó (25, tr31). Thẩm tra viên Thẩm tra viên là công chức chuyên môn nghiệp vụ về lĩnh vực thẩm tra các vụ án án hình sự, dân sự, kinh tế, hành chính và lao động; trực tiếp thực hiện việc thẩm tra các vụ án theo sự phân công của lãnh đạo Toà án.