CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỘNG VIÊN NHÂN VIÊN TRONG TỔ CHỨC 1.1 Khái niệm động viên nhân viên 1.1 Định nghĩa Theo Robbins (1998): Động viên là tinh thần sẵn sàng cố gắng ở mức cao nhằm hướng đến mục tiêu của tổ chức trong điều kiện một số nhu cầu của cá nhân được thỏa mãn theo khả năng nỗ lực của họ. Định nghĩa đề cập đến 3 yếu tố quan trọng là sự cố gắng, mục tiêu của tổ chức và nhu cầu. Theo McCelland (1985): Mỗi cá nhân có khuynh hướng phát triển theo chiều hướng được động viên nhất định trong môi trường văn hóa làm việc và những khuynh hướng này ảnh hưởng đến cách nhìn nhận công việc của họ. Theo Mitchell (1982): Động viên là quá trình tâm lý nhằm khơi gợi, hướng dẫn và duy trì hành vi hướng đến mục tiêu.
Theo Pinder (1988): Động viên là một tập hợp các lực xuất phát từ bên trong và bên ngoài tạo nên nhằm dẫn dắt và duy trì liên quan đến công việc của con người. Theo Dubrin (1995): Động viên là một quá trình tác động nhằm thỏa mãn nhu cầu của người khác hoặc của chính bản thân và phát huy hết động lực làm việc để đạt được mục đích của cá nhân và tổ chức.Hodgetts (1994): Động viên là tiến trình mà những mong muốn hay nhu cầu chưa được thỏa mãn sẽ là động lực dẫn dắt và định hướng nhân 8 viên phấn đấu đạt mục tiêu mong đợi nhằm thỏa mãn những mong muốn hay nhu cầu đó. Theo Nguyễn Hữu Lam (2012): Động viên là sự sẵn lòng thể hiện mức độ cao của nỗ lực để hướng tới các mục tiêu của tổ chức, trên cơ sở thỏa mãn các nhu cầu cá nhân. Các học thuyết trên cùng đề cập chung một vấn đề là động viên nhân viên nhằm hướng đến mục tiêu nâng cao năng suất lao động sự gắn bó của nhân viên với công ty.
Việc tìm hiểu động viên thông qua các học thuyết giúp các nhà quản trị xây dựng chiến lược, mục tiêu của quá trình động viên nhằm sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực.2 Ý nghĩa động viên nhân viên Động viên có vai trò rất quan trọng trong việc quản lý nguồn lực và sự tồn tại của tổ chức. Động viên không những cần thiết đối với người lao động để tạo hiệu quả trong công việc mà còn có ý nghĩa giúp tổ chức tồn tại. Sau đây luận sẽ phân tích sâu vào ý nghĩa của động viên tác động đến từng đối tượng. - Đối với người lao động: Con người luôn có những nhu cầu cần được thỏa mãn về cả hai mặt vật chất và tinh thần.
Khi người lao động cảm thấy những nhu cầu của mình được đáp ứng sẽ tạo tâm lý thúc đẩy người lao động làm việc hăng say nhiệt huyết với công việc hơn mặt khác khi không nhận được sự động viên thì hiệu suất lao động khó có thể đạt được mục tiêu bởi vì khi đó họ chỉ lao động hoàn thành công việc được giao mà không có được sự sáng tạo hay cố gắng phấn đấu trong lao động, họ chỉ coi công việc đang làm như một nghĩa vụ phải thực hiện theo hợp đồng lao động. Động viên vừa là điều kiện vừa là nhân tố quyết định đến hành vi và hiệu quả công việc. Do đó nhà quản lý cần phải động viên nhân viên thúc đẩy tính sáng tạo và năng lực làm việc. 9 Ngoài ra động viên còn giúp cho người lao động có thể tự hoàn thiện mình.
Khi được động viên trong công việc, người lao động có được nỗ lực lớn hơn để học hỏi, đúc kết được những kinh nghiệm trong công việc, nâng cao kiến thức, trình độ để tự hoàn thiện mình. Động viên thực sự là vấn đề quan trọng đối với tất cả nhân viên. - Đối với doanh nghiệp: Hiện tại nước ta đang trong quá trình hội nhập quốc tế, nền kinh tế thị trường mở, toàn cầu hóa nên sự cạnh tranh vô cùng gay gắt buộc các công ty phải cải tiến nâng cao năng suất liên tục để có thể đứng vững và phát triển trong môi trường cạnh tranh này. Động viên là chìa khóa cải thiện kết quả làm việc.
Vì vậy, nhà quản trị cần phải hiểu rõ ý nghĩa của động viên nhằm kích thích nguồn nhân lực, phát huy khả năng của nhân viên trong công việc góp phần vào sự phát triển chung của doanh nghiệp. Nhà quản trị muốn xây dựng tổ chức hay công ty vững mạnh thì phải xây dựng một đội ngũ nhân viên hiệu quả và muốn thực hiện điều này đòi hỏi nhà quản trị phải thực hiện tốt công tác động viên nhân viên. Sự động viên ngoài việc tăng năng suất lao động mà còn tạo tạo được sự gắn kết giữa nhân viên với công ty, tăng mức độ hài lòng, niềm tin, sự gắn bó và tận tụy của các nhân viên trong doanh nghiệp, giữ được nhân viên giỏi và ngăn chặn sự chảy máu chất xám, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.3 Đặc điểm động viên nhân viên Để có phương pháp động viên hiệu quả thì nhà quản trị cần phải am hiểu bản chất và đặc điểm của động viên. Theo một số quan điểm thì động viên có những đặc điểm sau: - Theo Richard L.Daft: Động viên là những nhân tố bên trong hoặc bên ngoài nào đó kích thích sự đam mê, động lực theo đuổi một công việc đã chọn.
10 - Động viên thường diễn ra trên hai phương tiện chính: Động viên vật chất và động viên tinh thần. Động viên vật chất thông qua chế độ lương, thưởng, trả lương theo sản phẩm, các hình thức lương thưởng theo chế độ, năng suất. Động viên tinh thần là một hình thức cao hơn bao gồm môi trường làm việc, các chính sách phát triển nghề nghiệp, được ghi nhận và thưởng khi có thành tích, được quan tâm đối xử công bằng,…Từ hai hình thức động viên trên giúp nhà quản lý áp dụng các phương pháp động viên phù hợp mang lại sự hài lòng của nhân viên trong công việc tạo sự gắn bó và công việc đạt hiệu quả cao. - Động viên được gắn liền với một công viêc, một tổ chức và môi trường làm việc cụ thể.
Động viên luôn thay đổi trong những hoàn cảnh khác nhau, điều kiện khác nhau thì động viên trong tổ chức sẽ khác nhau.2 Lý thuyết về động viên nhân viên trong tổ chức Theo Bartol và Martin (1988), các học thuyết về động viên được chia thành ba nhóm: Thuyết nhu cầu, thuyết về nhận thức và thuyết củng cố.1 Học thuyết động viên về nhu cầu Học thuyết nhu cầu Maslow (1943) Học thuyết nhu cầu của Abraham Maslow là một trong những mô hình được sử dụng rộng rãi nhất trong nghiên cứu về quản trị động viên nhân viên, thông qua việc hiểu biết nhu cầu của con người. Nhu cầu của mỗi cá nhân rất đa dạng và phong phú, để đáp ứng được nhu cầu đó thì Maslow đã chỉ ra rằng người quản lý phải hiểu được bản chất của nó và có các biện pháp nhằm thỏa mãn nhu cầu người lao động nhằm tạo động lực làm việc. Theo Maslow thì hành vi của con người bắt nguồn từ năm nhu cầu và được sắp xếp theo thứ tự ưu tiên, tầm quan trọng từ thấp đến cao theo biểu đồ bên dưới: 11 Nhu cầu Cấp cao tự thể hiện Nhu cầu được tôn trọng Nhu cầu xã hội Nhu cầu an toàn Cấp thấp Nhu cầu sinh học (Nguồn: Motivation and Personality, 2nd Ed.1 Tháp nhu cầu Abraham Maslow Nhu cầu về sinh học: Là những nhu cầu cơ bản nhằm duy trì cuộc sống, đảm bảo mức tối thiểu cho con người có thể tồn tại bao gồm nhu cầu ăn, uống, mặc, ở, duy trì nòi giống. Nếu thiếu các nhu cầu cơ bản này còn người không thể tồn tại.
Ông quan niệm rằng nếu nhu cầu này chưa được thỏa mãn tới mức cần thiết để duy trì sự sống thì những nhu cầu khác của con người không thể phát triển thêm được. Nhu cầu về an toàn: Khi những nhu cầu sinh lý được bảo đảm và đáp ứng đầy đủ, một cá nhân thường có xu hướng đi tìm cho mình một hoàn cảnh sống an toàn ổn định và được bảo vệ. Nếu nhu cầu an toàn không được đảm bảo thì công việc sẽ không tiến hành bình thường được và các nhu cầu khác sẽ không thực hiện được. Nhu cầu xã hội: Là nhu cầu được liên kết với người khác khi những nhu cầu về sinh lý, an toàn được đảm bảo.
Đó là nhu cầu về tình yêu, tình bạn, gia đình, con 12 cái, sự quan tâm và chia sẽ nói cách khác là cá nhân lo sợ cô đơn, thiếu vắng tình cảm và họ sẽ cố gắng tìm hiểu mọi người xung quanh. Nhu cầu được tôn trọng: Maslow chia nhu cầu này thành hai phần nhỏ đó là lòng tự trọng và được tôn trọng. Lòng tự trọng bao gồm nguyện vọng muốn có được lòng tin, năng lực, bản lĩnh, thành tích, độc lập, tự tin, tự do, tự trưởng thành, tự biểu hiện và tự hoàn thiện. Nhu cầu được người khác tôn trọng gồm khả năng giành được uy tín, được thừa nhận, được tiếp nhận, có địa vị, có danh dự… Tôn trọng là được người khác coi trọng, ngưỡng mộ.
Khi được người khác tôn trọng cá nhân sẽ tìm mọi cách để làm tốt công việc được giao. Do đó nhu cầu được tôn trọng là điều không thể thiếu đối với mỗi con người. Nhu cầu tự thể hiện: Là những nhu cầu muốn làm được mọi điều mà mình có khả năng làm hướng đến sự tự chủ và sáng tạo của bản thân. Maslow cho rằng trình tự thỏa mãn nhu cầu đi từ thấp đến cao, không thể bỏ qua bậc thang cơ bản của nhu cầu.
Trước tiên là thỏa mãn nhu cầu cấp thấp, khi các nhu cầu cấp thấp được thỏa mãn không còn tính chất động viên nữa, lúc đó nhu cầu bậc ở cấp độ cao sẽ xuất hiện. Bản chất lâu dài của quá trình động viên là cần chú trọng đến nhu cầu bậc cao. Theo thuyết nhu cầu của Maslow thì để khuyến khích và động viên nhân viên thì nhà quản lý hoặc lãnh đạo cần nghiên cứu và tìm hiểu cụ thể nhu cầu của nhân viên mình đang nằm ở cấp bậc nào từ hiểu biết đó giúp nhà lãnh đạo có biện pháp hữu hiệu nhằm đáp ứng một cách hợp tạo động lực nhân viên để đảm bảo đạt đến mục tiêu của tổ chức. Học thuyết hai nhân tố của F.Herberg (1959) Herzberg phát triển lý thuyết hai nhân tố động viên khi thực hiện việc nghiên cứu gần 4,000 cuộc phỏng vấn.
Sau cuộc điều tra ông đã phát triển lý thuyết động viên gồm 2 nhân tố đó là: Nhân tố động viên và nhân tố duy trì.