mở đầu cho vấn đề tuyển dụng nhân viên, là cơ sở cho việc bố trí nhân viên phù hợp. Một nhà quản trị không thể tuyển chọn đúng nhân viên, đặt đúng người vào đúng việc nếu không biết phân tích công việc. Mục đích chủ yếu của phân tích công việc là hướng dẫn giải thích cách thức xác định một cách chi tiết các chức năng nhiệm vụ chủ yếu của công việc và cách thức xác định nên tuyển chọn hay bố trí những người như thế nào để thực hiện công việc tốt nhất. Phân tích công việc là quá trình thu thập các thông tin liên quan đến công việc một cách có hệ thống.
Phân tích công việc được tiến hành nhằm để xác định các nhiệm vụ thuộc phạm vi công việc đó và các kỹ năng, năng lực quyền hạn và trách nhiệm cụ thể cần phải có để thực hiện công việc đó một cách tốt nhất. Cụ thể phân tích công việc nhằm trả lời các câu hỏi sau đây: - Nhân viên thực hiện những công tác gì? - Khi nào công việc được hoàn tất? - Công việc được thực hiện ở đâu? - Nhân viên làm công việc đó như thế nào? - Tại sao phải thực hiện công việc đó? - Để thực hiện công việc đó nhân viên cần hội đủ những tiêu chuẩn trình độ nào? Phân tích công việc cung cấp cho các nhà quản trị một bản tóm tắt các nhiệm vụ và trách nhiệm của một công việc nào đó, mối tương quan của công việc đó với công việc khác, kiến thức, kỹ năng cần thiết và các điều kiện làm việc. Muốn phân tích công việc phải dựa vào các tư liệu và thông tin thu thập được để xử lý cho phù hợp với mục tiêu chức danh của công việc. Thường chúng được hệ thống hóa và trình bày dưới dạng các bản mô tả công việc hay bản thống kê nhiệm vụ cá nhân.
Phân tích công việc được tiến hành nhằm: Học viên: Nguyễn Thị Nhung 11 Mã học viên: CA120417 Luận Văn Th. QTKD Trường ĐHBK Hà Nội - Xác định các nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm khi thực hiện công việc. - Điều kiện để tiến hành công việc. - Các tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng hoàn thành công việc.
- Mối tương quan của công việc đó với công việc khác. - Các phẩm chất, kỹ năng nhân viên phải có để thực hiện công việc đó. - Mục tiêu cụ thể của phân tích công việc là xây dựng bản mô tả công việc và bản tiêu chuẩn công việc và được sử dụng vào rất nhiều công việc của quản trị nguồn nhân lực thể hiện trong sơ đồ sau: Hoạch định NNL Tuyển dụng Mô tả công việc (Bản thống kê NV) Đào tạo và phát triển Làm cơ sở Phân tích công việc Tiêu chuẩn công Đánh giá thành tích việc Trả công khen thưởng An toàn và sức khỏe Hình 1.1: Sơ đồ phân tích công việc 1. Tuyển chọn nguồn nhân lực Tuyển dụng nguồn nhân lực được hiểu như một quá trình bao gồm các giai đoạn: tuyển chọn và bố trí.
Các giai đoạn quá trình trên có sự liên hệ chặt chẽ với nhau. Tuyển chọn là giai đoạn quyết định đến chất lượng của công tác tuyển dụng. Với phương châm dùng người “đúng người, đúng việc, đúng lúc” nên tuyển chọn nhân viên giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong tiến trình quản trị Học viên: Nguyễn Thị Nhung 12 Mã học viên: CA120417 Luận Văn Th. QTKD Trường ĐHBK Hà Nội nguồn nhân lực.
Bởi những người không đủ năng lực cần thiết để thực hiện công việc sẽ ảnh hưởng xấu đến chất lượng công việc đến hiệu quả của quản trị, thậm chí là nguồn gốc của sự mất đoàn kết gây chia rẽ trong nội bộ. Tuyển chọn nguồn nhân lực là một quá trình không đơn giản, không những đòi hỏi phải có nghiệp vụ chuyên môn một cách khoa học mà nó còn tùy thuộc vào chính sách tuyển dụng của mỗi công ty. Trong tuyển chọn thì những yêu cầu về phẩm chất và kỹ năng của ứng viên là những yếu tố mà nhà tuyển dụng luôn quan tâm. Vấn đề là nhà tuyển dụng quan tâm đến yếu tố nào nơi người sắp được tuyển.
Công việc là đa dạng nên những yêu cầu về tiêu chuẩn của ứng viên cũng rất đa dạng. Như vậy tuyển chọn nguồn nhân lực là quá trình lựa chọn những người phù hợp với tính chất và yêu cầu của từng công việc. Những người bị loại không phải là những người xấu không sử dụng được mà chẳng qua là họ không hoặc ít thích hợp với công việc mà tổ chức cần. Quá trình tuyển chọn là một quy trình bao gồm nhiều bước, mà mỗi bước được coi như một rào chắn nhằm loại bỏ những ứng viên không đạt tiêu chuẩn đi vào các bước tiếp theo.
Số lượng các bước trong quá trình tuyển chọn không phải cố định mà tùy thuộc vào mức độ phức tạp của công việc hay tầm quan trọng của chức danh công việc cần tuyển. Để được nhận vào làm thì các ứng viên phải vượt qua tất cả các bước trong quá trình tuyển chọn công việc đó đề ra. Mỗi tổ chức người ta có thể áp dụng quy trình tuyển chọn khác nhau. Nhưng nhìn chung tuyển chọn nhân viên thường trải qua các bước sau đây: Học viên: Nguyễn Thị Nhung 13 Mã học viên: CA120417 Luận Văn Th.
QTKD Trường ĐHBK Hà Nội Chuẩn bị tuyển dụng Nghiên cứu và phân loại hồ sơ Phỏng vấn sơ bộ Trắc nghiệm Phỏng vấn sâu Khám sức khỏe và thẩm tra Quyết định và hòa nhập Hình 1.2: Các bước tuyển chọn nhân viên *) Đánh giá hiệu quả quá trình tuyển dụng theo nguồn tuyển dụng Theo Noe et al (2009), việc đánh giá xem nguồn tuyển dụng nào là tốt nhất cho công tác tuyển dụng của tổ chức là việc rất khó vì mỗi tổ chức lại có những tính chất và đặc điểm riêng, có nhu cầu tuyển dụng, đối tượng tuyển dụng khác nhau. Điều mà các công ty có thể đánh giá đó là nhu cầu tuyển dụng của mình, ngân sách cho việc tuyển dụng cũng như sự phù hợp giữa lựa chọn về nguồn tuyển dụng và các đối tượng tuyển dụng thông qua một số các phân tích và chỉ số dưới đây. Dựa trên đánh giá đó, họ cần duy trì chất lượng của tất cả nguồn tuyển dụng mà họ đã lựa chọn. Học viên: Nguyễn Thị Nhung 14 Mã học viên: CA120417 Luận Văn Th.
QTKD Trường ĐHBK Hà Nội a. Chỉ số sàng lọc (yield ratio) So sánh chỉ số sàng lọc của các nguồn tuyển dụng có thể giúp đánh giá và quản lý hiệu quả của các nguồn tuyển dụng. Chỉ số này cho thấy phần tram các ứng viên được lựa chọn từ qúa trình tuyển dụng, sàng lọc sang các chu trình tiếp theo. YR = tổng số đơn được xét để phỏng vấn/ tổng số đơn ứng tuyển Chỉ số sàng lọc của một nguồn cao cho thấy tuyển dụng qua nguồn đó là một cách thức hiệu quả.
Sử dụng chỉ số này sẽ là cơ sở cho tổ chức lựa chọn chính xác nguồn tuyển dụng phù hợp với vị trí cần tuyển. Chi phí tuyển dụng bình quân (cost per hire) Chi phí tuyển dụng bình quân là tỷ lệ giữa tổng chi phí tuyển dụng và tổng số nhân sự được tuyển cho một vị trí tuyển dụng. Chi phí tuyển dụng bình quân đối với một nguồn tuyển dụng thấp thì nguồn đó là hiệu quả khi giúp tổ chức tuyển được lao động ở chi phí thấp nhất. CPH = tổng chi phí tuyển dụng/ tổng số nhân sự được tuyển c.
Thời gian tuyển dụng bình quân (Time – to –fill) Chỉ số thời gian tuyển dụng bình quân đo lường thời gian trung bình để tuyển nhân sự cho một vị trí. Cơ sở của việc sử dụng chỉ số này xuất phát từ lý luận về những thiệt hại phát sinh từ việc không có đủ nhân sự đảm đương các công việc của tổ chức. Thời gian tuyển dụng càng ngắn, việc tuyển dụng càng hiệu quả. TTF = Tổng thời gian tuyển dụng/ tổng số nhân sự được tuyển 1.
Sử dụng, sắp xếp, bố trí nguồn nhân lực Sử dụng nguồn nhân lực tức là quá trình tạo điều kiện cho con người tham gia vào hoạt động sản xuất để tạo ra của cải vật chất, tinh thần phục vụ các nhu cầu sản xuất và nhu cầu tiêu dùng trong xã hội. Quá trình lao động sản xuất đó là quá trình kết hợp sức lao động với các yếu tố khác của lực lượng sản xuất nên việc khai thác và phát huy nguồn nhân lực không thể tách rời việc tổ chức nền sản xuất cùng những cách thức của sự phát triển kinh tế - xã hội. Bởi vậy, sử dụng nguồn nhân lực được hiểu: Học viên: Nguyễn Thị Nhung 15 Mã học viên: CA120417 Luận Văn Th. QTKD Trường ĐHBK Hà Nội Thứ nhất, là việc khơi dậy và phát huy tất cả các khả năng của con người thành hiện thực, biến sức lao động thành lao động trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
Thứ hai, là quá trình sắp đặt nhân lực vào các vị trí công việc của doanh nghiệp, khai thác và phát huy tối đa năng lực làm việc của nguồn nhân lực nhằm đạt hiệu quả cao trong công việc. Các nguyên tắc sử dụng nguồn nhân lực: Sử dụng nguồn nhân lực phải có kế hoạch trước: - Quy hoạch cụ thể trong bố trí và sử dụng nguồn nhân lực để đảm bảo bố trí đúng người đúng việc. - Quá trình sử dụng nguồn nhân lực phải đảm báo có mục đích. Ý tưởng dùng người là rất quan trọng vì nó có tính động viên rất cao.
- Phải biết mạnh dạn trong bố trí và sử dụng nguồn nhân lực, phải biết phá bỏ các khuôn thước cũ. - Ngoài năng lực chuyên môn, bố trí và sử dụng nguồn nhân lực phải coi trọng phẩm chất đạo đức. Sử dụng nguồn nhân lực theo logic hiệu suất - Đảm bảo tính chuyên môn hóa, thống nhất quy trình nghiệp vụ trên toàn hệ thống của tổ chức. - Đảm bảo tính hợp tác giữa các cá nhân và nhóm.
- Dùng người theo học thức. - Mỗi cá nhân trong tổ chức cần phải có được danh và phận cho riêng mình. Sử dụng nguồn nhân lực theo logic tâm lý xã hội - Giao cho người lao động nhiều việc phức tạp để tạo ra thách thức. - Khích lệ nhu cầu thành đạt.
- Luân chuyển công việc. - Tạo niềm vui trong công việc. Sử dụng nguồn nhân lực còn cần đến vấn đề sắp xếp, bố trí nhân lực cho phù hợp. Điều này có vai trò quyết định đến hiệu quả hoạt động của bộ máy quản lý.
Việc bố trí người lao động có hợp lý mới có thể phát huy hiệu quả và chất lượng trong suốt quá trình sử dụng nguồn nhân lực.