mở đầu là tổng quan về mỹ học, tác giả lấy đó làm cơ sở lý luận để thực hiện nghiên cứu tiếp theo. Các chƣơng còn lại, tác giả đã phân tích một cách cơ bản có hệ thống, luận giải những vấn đề về quy luật của sự hình thành và phát triển 17 nhân cách, đi sâu nghiên cứu nhiều góc độ thông qua các hình thức GDTM, trong đó có GDTM bằng nghệ thuật. Cái cốt yếu của vấn đề là, để chứng minh cho vai trò của GDTM trong việc hình thành và phát triển nhân cách con ngƣời theo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lê nin. Nguyễn Thế Kiệt đề cao việc GDTM bằng nghệ thuật: “Do chức năng của nghệ thuật phản ánh cuộc sống bằng hình tƣợng cụ thể và sinh động, toàn vẹn nhƣ chính cuộc sống, nên hình tƣợng nghệ thuật vừa có chức năng nhận thức, vừa có chức năng đạo đức và chức năng thẩm mỹ” [58; 149].
Chức năng GD của nghệ thuật là hƣớng con ngƣời tới cái đúng, cái tốt, cái đẹp. Nghệ thuật là sản phẩm hoạt động sáng tạo của con ngƣời, giúp cho con ngƣời hiểu biết thế giới xung quanh và hiểu biết lẫn nhau. Những tác phẩm nghệ thuật chân chính sẽ là cầu nối, làm cho các dân tộc xích lại gần nhau hơn và hơn thế, nó có thể cảm hóa, chinh phục con ngƣời thông qua quá trình hoạt động hay thƣởng thức tác phẩm. Khi ngƣời thƣởng thức cảm nhận đƣợc trọn vẹn nội dung tác phẩm nghệ thuật, thì tác dụng mang đến có thể coi nhƣ một thử nghiệm của sáng tạo, “vì nó luôn tạo ra tình huống bất ngờ, đem lại niềm sảng khoái và những phát hiện mới mẻ, khâm phục cái đẹp, kích thích khát vọng vƣơn tới cái đẹp” [58; 108].
Trong lĩnh vực nghệ thuật, cái đẹp là linh hồn sống của nghệ thuật. Cái đẹp trong nghệ thuật là hình thức cao nhất của cái đẹp, trong đó tác phẩm nghệ thuật, hình tƣợng nghệ thuật đạt tới sự hài hòa của TM. Tác phẩm nghệ thuật đẹp bao gồm ba yếu tố: phản ánh chân thực cuộc sống của con ngƣời trong tính toàn vẹn, đa diện và sinh động; có sự hài hòa giữa nội dung và hình thức; sự chân thực của ý thức xã hội đƣợc nghệ sĩ gửi gắm vào tác phẩm. Công chúng đến với nghệ thuật để nhận đƣợc sự mách bảo con đƣờng chiếm lĩnh cái đẹp.
GDTM giúp nhận thức đƣợc giá trị TM của cuộc sống và nghệ thuật ở mức độ sâu sắc, toàn diện, có khả năng đánh giá TM biểu lộ thông qua các nhận xét, cảm xúc, thái độ của chủ thể TM trƣớc khách thể TM. Những ngƣời có óc TM phát triển bao giờ cũng là những ngƣời có trình độ hiểu biết sâu rộng, có kinh nghiệm phong phú và đời sống đạo đức lành mạnh [8; 2]. GDTM bằng nghệ thuật đã làm biến đổi hoàn toàn giá trị của sự vật, khiến cho cái bình thƣờng quen thuộc khi đi vào nghệ thuật cũng trở nên lạ, khác thƣờng, cái 18 không đẹp trở nên đẹp, cái đã đẹp lại càng nổi bật và hấp dẫn hơn. Các quan điểm trong nghiên cứu này tuy không mới, nhƣng cũng là cơ sở để khẳng định thêm: GDTM nói chung, GDTM âm nhạc nói riêng luôn là vấn đề vô cùng quan trọng, mang tính cấp thiết trong việc hình thành và phát triển nhân cách cho HS.
Thông qua việc GDTM âm nhạc, phần nào giúp các em hiểu đƣợc cái hay, cái đẹp của cuộc sống, góp phần phát triển về trí tuệ và thể chất cho HS. Giáo dục thẩm mỹ và giáo dục nghệ thuật của Đỗ Xuân Hà [36] nghiên cứu về thực trạng GDTM và GD nghệ thuật cho HS phổ thông ở nƣớc ta những năm cuối thế kỷ XX. Ông cho rằng, tuy đã xác định đúng mục tiêu và thấy đƣợc GDTM đang là nhu cầu cấp bách của xã hội Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, nhƣng thực tế việc GDTM đang bị xem nhẹ, hoặc tiến hành một cách tùy tiện. Bằng những tƣ liệu tin cậy, ông đánh giá và đƣa ra phƣơng hƣớng nhằm nâng cao chất lƣợng GDTM cho HS phổ thông ở nƣớc ta.
Bên cạnh đó, ông đƣa ra nhiệm vụ quan trọng của GDTM ở trƣờng phổ thông là tạo cho HS một vốn ấn tƣợng và tri thức TM tối thiểu cần thiết. Hình thành ở các em những phẩm chất tâm lý - xã hội của nhân cách khả dĩ. Cho phép các em trải nghiệm đánh giá về mặt cảm xúc, thƣởng thức những sự vật hiện tƣợng có ý nghĩa TM. Hình thành và phát triển những phẩm chất, nhu cầu năng lực sáng tạo TM cho HS.
Phƣơng hƣớng chủ yếu để triển khai GDTM cho HS là bằng phƣơng tiện nghệ thuật thông qua việc dạy các môn nghệ thuật trong nội/ ngoại khóa ở trong và ngoài nhà trƣờng [70; 84-86]. Tuy chƣa đánh giá hiện trạng cụ thể của môn âm nhạc, nhƣng trên phƣơng diện là một công trình khoa học, tác giả đã đƣa ra các thực trạng và phƣơng hƣớng GD nhằm minh chứng vai trò của GDTM bằng nghệ thuật cho HS phổ thông. Qua nội dung của đề tài này, chúng tôi coi đó là một trong những yếu tố nền tảng để định hƣớng nghiên cứu cho luận án của mình. Giáo dục thẩm mỹ âm nhạc Các nghiên cứu về GDTM âm nhạc đã có những đóng góp đáng kể cho lý luận dạy học âm nhạc.
Trong cuốn Theo dòng âm thanh cái đẹp sải cánh [2], Dƣơng Viết Á với quan điểm: mỹ học âm nhạc cần phải đúc kết thành lý luận đi sâu vào thành môn khoa học chuyên ngành, bởi “mối quan hệ giữa mỹ học âm nhạc và các khoa học là mối quan hệ giữa khoa học lý thuyết mang tính phổ quát và khoa học cụ thể 19 chuyên ngành” [2; 8]. Tác giả nghiên cứu sâu về các đặc trƣng phản ánh hiện thực của âm nhạc. Tâm tƣ, tình cảm của con ngƣời nhờ có âm nhạc mà chắp cánh bay cao, bay xa hơn. Tác giả đƣa ra nhiều dẫn chứng để chứng minh cho mệnh đề: Nơi nào ngôn ngữ bất lực thì ở đó bắt đầu có âm nhạc - đây cũng là quan điểm chung của nhiều nhà phê bình âm nhạc.
Ông phân tích khá chi tiết về vai trò của ngôn ngữ âm nhạc và các thành tố tạo nên ngôn ngữ âm nhạc là giai điệu, tiết tấu, phức điệu, hòa thanh, phối khí. Các thành tố đó phối hợp chặt chẽ với nhau, tạo nên một tác phẩm âm nhạc. Ông cho rằng yếu tố lời ca cũng rất quan trọng, là phần không thể thiếu trong diện mạo của một ca khúc. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa âm nhạc và lời ca cần phải thông qua các quy luật của âm nhạc, ngôn ngữ và thơ ca.
Vấn đề về hình tƣợng âm nhạc trên phƣơng diện lý thuyết đƣợc ông khái quát, từ đó giúp chúng tôi hiểu sâu hơn về hình tƣợng âm nhạc. Ông quan niệm hình tƣợng âm nhạc có thể coi là kết quả của một quá trình nhận thức đặc thù với những đặc điểm: hình tƣợng âm nhạc thuộc hình tƣợng biểu hiện, mang tính ƣớc lệ và tác động vào ngƣời thƣởng thức theo hƣớng khơi gợi, giúp cho ngƣời thƣởng thức tạo dựng nên một hình tƣợng âm nhạc hoàn chỉnh trong tƣ duy của mỗi ngƣời. Với đặc thù là nghệ thuật thời gian, theo dòng âm thanh bằng cảm xúc, ngƣời thƣởng thức sẽ từng bƣớc tạo nên hình tƣợng âm nhạc trong tƣ duy để mƣờng tƣợng về bức tranh của cuộc sống [2; 76]. Với đặc trƣng âm nhạc là nghệ thuật kiến trúc âm thanh, ngƣời thƣởng thức đã tiếp nhận nó một cách “mơ hồ”, chính điều ấy càng làm giàu cho trí tƣởng tƣợng tạo nên hình tƣợng âm nhạc [2; 78].
Tác giả còn nhấn mạnh vai trò của ngƣời nghệ sĩ: cần phải hiểu đối tƣợng của mình để khơi gợi, phát huy sự năng động giúp ngƣời thƣởng thức tạo dựng hình tƣợng âm nhạc. Tác giả đƣa ra quan điểm về quá trình thƣởng thức âm nhạc, làm rõ luận điểm “khi thƣởng thức âm nhạc thì vai trò của thị hiếu rất quan trọng, nếu có định kiến xấu sẽ dẫn đến thái độ thiên lệch thiếu khách quan” [2; 131]. Ở đây chúng tôi quan tâm đến vấn đề mà tác giả đã đề cập, đó là: “nguyên nhân tạo nên thị hiếu trong thƣởng thức âm nhạc là do điều kiện xã hội, lứa tuổi, hoàn cảnh sinh hoạt, trình độ văn hóa…”[2; 135]. Tất cả yếu tố trên, sẽ là căn cứ khi chọn một tác phẩm cho ngƣời thƣởng thức tiếp nhận.
Mặt khác, tác giả nhấn mạnh việc thay đổi một thị hiếu âm nhạc đã định hình không phải 20 là một chuyện dễ dàng, đơn giản. Vì thế: “không thể có thái độ nóng vội, áp đặt, mệnh lệnh” [2; 138], bởi “GDTM âm nhạc nói chung và xây dựng thị hiếu âm nhạc nói riêng là một việc vừa khoa học, vừa nghệ thuật, khoa học trong nghiên cứu và vận dụng quy luật hình thành thị hiếu. Nghệ thuật trong biện pháp thực hiện cụ thể đối với từng đối tƣợng cụ thể” [2; 138]. Chúng tôi cho rằng những nhận định trên không mới, tuy nhiên đó cũng là định hƣớng để ngƣời nghiên cứu sau có cơ sở khẳng định thêm vai trò của GDTM âm nhạc.
Điều này là vô cùng quan trọng, vì đó là căn cứ giúp cho GV âm nhạc, phụ huynh HS cũng nhƣ các nhà quản lý GD hiểu rõ hơn về tác dụng của GDTM âm nhạc cho học sinh phổ thông, nhất là với đối tƣợng HS ở cấp THCS nói chung trên toàn quốc và ở tỉnh Bình Dƣơng nói riêng. Cuốn Bay lên từ truyền thống của Nguyễn Đăng Nghị [80] nghiên cứu về dòng ca khúc cách mạng Việt Nam giai đoạn 1930 - 1975. Tuy tác giả không đề cập trực tiếp tới GDTM bằng âm nhạc, nhƣng nội dung của cuốn sách lại có tính khơi gợi, giúp ngƣời đọc thấy đƣợc giá trị TM cũng nhƣ giá trị văn hóa trong mỗi ca khúc. Có đƣợc điều đó là bởi tác giả đã tiếp cận đối tƣợng nghiên cứu dƣới góc nhìn của văn hóa học và mỹ học.
Thông qua đó, tác giả cho ngƣời đọc thấy đƣợc mối quan hệ gần, xa của ca khúc tựa nhƣ vừa nhìn thấy cây, vừa nhìn thấy rừng vậy. Tác giả cho rằng: “Ca khúc cách mạng là một sản phẩm văn hóa, nên tất yếu nó là tấm gƣơng phản ánh đa chiều về lịch sử, văn hóa dân tộc nƣớc nhà” [80; 227]. Cùng với chức năng dự báo là sự lạc quan hƣớng về tƣơng lai tƣơi sáng, thể hiện nên cái tâm thức và TM trong tƣ duy của một dân tộc giàu lòng yêu nƣớc. Với ngôn ngữ âm nhạc, thông qua giai điệu sẽ giúp cho ngƣời thƣởng thức có cái nhìn nhân văn hơn về con ngƣời và dân tộc Việt Nam.