Chương 1, nhóm tác giả đã đưa ra khái niệm về ngư dân, coi ngư dân là tất cả những người sống gần sông nước và có hoạt động đánh bắt thủy hải sản, tuy chưa xây dựng khái niệm về từng loại ngư dân nhưng đây là tài liệu có giá trị tham khảo cao để nghiên cứu sinh đưa ra khái niệm ngư dân biển trong luận án. Tại Chương 2, nhóm tác giả đã phân tích khá đầy đủ về tính cộng đồng trong hoạt động đánh bắt của ngư dân, các yếu tố tác động đến 11 Đoàn Đức Lương và Lý Nam Hải (2018), Hoạt động giáo dục và tư vấn pháp luật cho phạm nhân, thực tiễn tại Tỉnh Thừa Thiên Huế”, Nxb. Đại Học Huế. 12 Bùi Xuân Đính, Nguyễn Thị Thanh Bình, Đời sống xã hội và văn hóa của cộng đồng ngư dân ven biển và hải đảo từ Đà Nẵng đến Khánh Hòa-góc nhìn dân tộc học, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
13 nghèo và phân hóa giàu nghèo của ngư dân. Ngoài ra, tại Chương 3, nhóm tác giả đã nêu các vấn đề về giáo dục và đào tạo nghề, về văn hóa và các hình thức tín ngưỡng liên quan đến đánh bắt hải sản, đây là các thông tin cần thiết để nghiên cứu sinh phân tích và đánh giá điều kiện sinh nghiệp của ngư dân và các yếu tố tác động đến PBGDPL cho ngư dân biển. Thứ ba, về các bài viết thì có thể kể đến một số bài viết sau: - Các bài viết “Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động giáo dục pháp luật cho cán bộ công chức hành chính ở nước ta”13 và “Giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức hành chính trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”14 của Nguyễn Quốc Sửu. Ở bài viết đầu tiên, tác giả cho rằng, hoạt động GDPL cho cán bộ công chức hành chính ở nước ta phụ thuộc rất nhiều yếu tố, trong đó, ngoài chịu sự tác động chính của yếu tố pháp luật, thì các yếu tố khác như chính trị, kinh tế, văn hóa, cũng tác động không nhỏ đến hoạt động GDPL.
Chẳng hạn, nếu chính trị ổn định, cán bộ công chức sẽ yên tâm công tác, quá trình thực hiện pháp luật sẽ chủ động và tiến bộ, kinh tế phát triển, cán bộ công chức hành chính sẽ được nâng cao về đời sống vật chất, từ đó quá trình học tập, nâng cao ý thức pháp luật sẽ được thuận lợi. Bài viết thứ hai, tác giả nghiên cứu hoạt động GDPL cho cán bộ, công chức trong thời điểm xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam, ngoài việc xác định tương đối đầy đủ về phương diện lý luận như chủ thể, đối tượng, nội dung, phương pháp và hình thức GDPL cho đội ngũ cán bộ hành chính, tác giả cuốn sách còn đưa ra các tiêu chí về nội dung, hình thức và phương pháp GDPL cho phù hợp với các đối tượng giáo dục. - Bài viết“Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động phổ biển, giáo dục pháp luật cho phạm nhân tại các trại giam ở Việt Nam-Một số giải pháp nâng cao hiệu quả”15 của Lý Nam Hải (2017) cho rằng hoạt động PBGDPL cho phạm nhân có sự tác động, chi phối bởi các yếu tố chủ quan và khách quan. Về yếu tố chủ quan thì 13 Nguyễn Quốc Sửu (2010), Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động giáo dục pháp luật cho cán bộ công chức hành chính ở nước ta, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 4/2010.
14 Nguyễn Quốc Sửu (2011), Giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức hành chính trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội. 15 Lý Nam Hải (2017), Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động phổ biển, giáo dục pháp luật cho phạm nhân tại các trại giam ở Việt Nam-Một số giải pháp nâng cao hiệu quả”15, Tạp chí Pháp luật và Phát triển, Hội luật gia Việt Nam, số 11+12, tr. 14 năng lực, trách nhiệm của các chủ thể GDPL, gồm cả chủ thể tổ chức thực hiện và chủ thể trực tiếp thực hiện GDPL là yếu tố quan trọng, quyết định đến hiệu quả của hoạt động PBGDPL; ngoài ra còn có các yếu tố khác như trình độ học vấn và khả năng tiếp cận thông tin, kiến thức pháp luật của các phạm nhân.
Về các yếu tố khách quan, tác giả đưa ra ba yếu tố chính là điều kiện kinh tế, cơ sở vật chất của trại giam, về chính sách, quy định của pháp luật và cơ chế phối hợp giữa các chủ thể trong hoạt động PBGDPL. - Trong bài viết “Giáo dục pháp luật góp phần nâng cao ý thức và nghĩa vụ tuân thủ pháp luật”16 của Tống Đức Thảo (2006) đã nêu lên những đặc điểm cơ bản của ý thức pháp luật trong mối liên hệ với hoạt động GDPL, vai trò của GDPL đối với việc nâng cao ý thức pháp luật cho các tầng lớp nhân dân. Tác giả cũng đưa ra quan điểm về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác giáo dục, các yếu tố đảm bảo cho công tác giáo dục được thực hiện có hiệu quả, đổi mới về nội dung, chương trình giáo dục, công tác GDPL phải đạt được hiệu quả trong việc giúp cộng đồng tự giác khi tham gia các quan hệ pháp luật, gắn ý thức pháp luật với trách nhiệm xã hội của mỗi công dân. - Bài viết “Một số tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật”17 của Đặng Vũ Huân cho rằng hiệu quả của công tác PBGDPL phụ thuộc vào nhiều yếu tố.
Điểm mới trong quan điểm của tác giả là cho rằng hiệu quả của hoạt động GDPL phụ thuộc rất nhiều vào sự chủ động, tích cực tham gia của công dân, của người học; công dân đóng góp ý kiến, tham gia PBGDPL cho các đối tượng khác sẽ mang tính chất lan tỏa sau khi đã được PBGDPL. - Bài viết “Giáo dục pháp luật hay giáo dục ý thức pháp luật?”18 của Ngọ Văn Nhân cho rằng hiện nay thường tồn tại song song quan điểm về hai khái niệm: “giáo dục pháp luật” và “giáo dục ý thức pháp luật”. Hai khái niệm này chưa có sự rõ ràng về nội hàm, có lúc được sử dụng cùng quan điểm, nhưng cũng có lúc có hai 16 Tống Đức Thảo (2006), Giáo dục pháp luật góp phần nâng cao ý thức và nghĩa vụ tuân thủ pháp luật, Lý luận chính trị, số 10/2006, tr. 17 Đặng Vũ Huân (2011), Một số tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 10 (235), tr.
18 Ngọ Văn Nhân (2012), Giáo dục pháp luật hay giáo dục ý thức pháp luật?, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 12(295), tr. 15 quan điểm khác nhau; vì vậy, dễ có sự nhầm lẫn, hoán đổi hoặc đồng nhất nội hàm của hai khái niệm này. Từ sự so sánh, đối chiếu về mục đích, mục tiêu, chủ thể, đối tượng, nội dung, phương pháp, hình thức GDPL và giáo dục ý thức pháp luật, tác giả đi đến kết luận rằng cần thống nhất sử dụng khái niệm “giáo dục pháp luật” làm khái niệm chuẩn; không nên sử dụng khái niệm “giáo dục ý thức pháp luật” vì không rõ nội hàm. Tác giả cũng gợi mở khi muốn nhấn mạnh ý thức pháp luật thì có thể nói “giáo dục pháp luật nhằm nâng cao ý thức pháp luật” cho một đối tượng hoặc nhóm đối tượng cụ thể.
- Bài viết “Những khó khăn trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho ngư dân biển tại Việt Nam hiện nay”19 của Lý Nam Hải (2020). Trong bài viết này, tác giả đã đánh giá các yếu tố chủ quan và khách quan tác động trực tiếp đến hiệu quả của công tác PBGDPL cho ngư dân biển Việt Nam hiện nay, trong đó tác giả nhấn mạnh đến các yếu tố về kinh tế, chính trị, đường lối, phong tục tập quán và công tác tổ chức PBGDPL tại các địa phương. Tác giả phân tích những yếu tố ảnh hưởng và các rào cản để thực hiện có hiệu quả công tác PBGDPL cho ngư dân biển. Bài viết chỉ rõ những khó khăn trong hoạt động PBGDPL cho ngư dân biển hiện nay, tuy nhiên, tác giả bài viết hơi nghiêng về đánh giá những khó khăn của chủ thể tổ chức và chủ thể thực hiện PBGDPL cho ngư dân biển mà không nhắc tới những khó khăn của đối tượng được hưởng thụ trong công tác này là ngư dân biển, đặc biệt là các khó khăn liên quan đến trình độ nhận thức, phong tục tập quán và điều kiện sinh kế khác.
- Bài viết “Tuyên truyền, phổ biến pháp luật về hoạt động nghề cá góp phần bảo vệ chủ quyền biển đảo”20 của Phạm Thị Thanh Ngọc (2018) là công trình có ý nghĩa tham khảo lớn cho nghiên cứu sinh trong quá trình thực hiện đề tài, bởi vì nội dung bài viết có đề cập đến ngư dân biển và mục đích mang tính đặc thù trong công tác PBGDPL cho ngư dân biển đó là bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc. Trong 19 Lý Nam Hải (2020), Những khó khăn trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho ngư dân biển tại Việt Nam hiện nay, tạp chí Pháp luật và thực tiễn số 44, Trường Đại học Luật, Đại học Huế, tr. 20 Phạm Thị Thanh Ngọc (2018), “Tuyên truyền, phổ biến pháp luật về hoạt động nghề cá góp phần bảo vệ chủ quyền biển đảo”, tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số chuyên đề tháng 4/2018, tr. 16 bài viết này, tác giả không đưa ra quan điểm, giải pháp hay đánh giá thực trạng, mà chỉ tập trung luận giải các nội dung PBGDPL cho ngư dân trong hoạt động nghề cá, xác định các nội dung PBGDPL cần thiết và phù hợp với điều kiện chính trị hiện nay.
Tác giả cho rằng, nội dung PBGDPL mà ngư dân đánh bắt xa bờ quan tâm nhất chính là quy định của các nước về xử phạt ngư dân, tàu cá vi phạm tại vùng biển nước ngoài, vì nội dung này ít được các chủ thể PBGDPL ở Việt Nam tuyên truyền và phổ biến, phần kết luận. Tác giả xác định vấn đề cấp thiết đặt ra cho các ngành, địa phương trong công tác PBGDPL cho ngư dân hoạt động nghề cá đó là nâng cao ý thức pháp luật, hạn chế các hành vi xâm phạm vùng biển nước ngoài của ngư dân.