Chương I:GIAO DUC MOI TRƯỜNG A. MÔI TRƯỜNG Trước khi vào phan giáo dục môi trường, chúng ta hãy tìm hiểu một số khái niệm quen thuộc trong khoa học môi trường MÔI TRƯỜNG LÀ GÌ ? Môi trường, trong tiếng Anh là “environment”, tiếng Đức là “unwelt”, tiếng Trung Quốc là "hoàn cảnh". Người ta định nghĩa vé môi trường theo nhiều cách khác nhau: Masn và Langenhim (1957) cho ring: Môi trường là một tập hợp các yếu tố tổn tại xung quanh sinh vật và ảnh hưởng đến sinh vật Joe whiteney (1993) định nghĩa: Môi trường là tất cả những gì ngoài cơ thể, có liên quan mật thiết và có ảnh hưởng đến sự tổn tại của con người như : đất, nước, không khí, ánh sáng mặt trời, rừng, biển, ting ozon, sự đa dang cấc loài. Các tác giả Trung Quốc như Lương Tử Dung, Vũ Trung Giang cho rằng: Môi trường là hoàn cảnh sống của sinh vật, kể cả con n#ười, mà sinh vật và con người đó không thể tách riêng ra khỏi diéu kiện sống của nó.
Nhà bác học Einstein cho rằng: Môi trường là tất cả những gì ngoài tôi ra Chương trình môi trường của UNEP định nghĩa: Môi trường là tập hợp tất cả các yếu tố vật lý, hoá học, sinh học, kinh tế xã hội tác động lên từng cá thể hay cả cộng đồng Tự điển môi trường của Gurdey Rej (1981) định nghĩa: Môi trường là hoàn cảnh vật lý, hoá học và sinh học bao quanh sinh vật đó, đó gọi là môi trường bên ngoài. Còn các điểu kiện, hoàn cảnh vật lý, hoá học và sinh học bên trong cơ thể được gọi là môitrường bên trong. Dịch bào quanh tế bào, thì dịch bào là môi trường của tế bào cơ thể. Tự điển bách khoa Larouse: môi trường là tất cả những gì bao quanh chúng ta hoặc sinh vật Ngày nay, người ta đã thống nhất với nhau về định nghĩa: Môi trường là các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo, lý hoc, hoá học, sinh học cùng tổn tại trong không gian bao quanh con người.
Các yếu tổ đó có quan hệ mật thiết, tương tác lẫn nhau và tác động lên các cá thể sinh vật hay con người để cùng tốn tại và phát triển. Tổng hòa các chiều hướng phát triển của từng nhân tố này quyết định chiều hướng phát triển của cá thể sinh vật, của hệ sinh thái và của xã hội con người. LVTN : GDMT THONG QUA CHUONG TRÌNH HOÁ HỌC LỚP 10 7 GVHD : Thạc sĩ Nguyễn Văn Binh SVTH : Hà Tú Vân ll. Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG (POLLUTION) LA GÌ? Là sự làm thay đổi trực tiếp hoặc gián tiếp các thành phan và đặc tính vật lý học, nhiệt độ, sinh học, chất sinh học, sinh hoá, keo, chất hoà tan, chất phóng xạ Ở trong bất kỳ thành phần nào của môi trường hay toàn bộ môi trường vượt quá mức cho phép đã được xác định.
Sự gia tăng các chất lạ vào môi trường, sự thay đổi các yếu tố môi trường này gây tổn hại hoặc có tiểm năng gây tổn hai đến sức khoẻ, sự an toàn hay sự phát triển của người và sinh vật trong môi trường đó. Những tác nhân gây ô nhiễm được gọi tất là “chất ô nhiễm". 1) Chất 6 nhiễm Là những chất hoặc những nguyên tố có tác dụng biến môi trường đang trong lành, sạch đẹp sẽ trở nên độc hại. Chất 6 nhiễm này có thể là chất rấn (như rác.) hay chất lỏng (như các dung dịch hoá học, chất thải của ngành dệt nhuộm, sản xuất rượu, chế biến thực phẩm.), cũng có khi là chất khí (như SO, do núi lửa phun, NO; trong khói xe hơi, CO trong khói bếp, lò gạch.
Các kim loại nặng như chì, đồng. cũng có khi nó vừa ở thể hơi, vừa ở thể rắn thăng hoa hay ở dạng trung gian. Một lúc nào đó có thể chỉ có một chất gây 6 nhiễm, ở một dang 6 nhiễm. Nhưng cũng có thể có hai hay nhiều chất gây ô nhiễm và các chất đó ở cùng các thể khí, rấn, lỏng, tác động gây 6 nhiễm.
Ví đụ môi trường đất phèn có thể do các cation AI”, Fe?"; các anion SO,?', Cl’ cùng với các chất khí H,S; các chất này đồng thời tác động vào cây trồng, cá, tôm gây chết cho chúng. Không khí đô thị thường vừa bị tiếng ổn quá cỡ, độ rung quá mức cho phép, rồi mùi hôi thối từ các kênh rach, các cống rác tác động lên con người làm hại sức khoẻ, thậm chí chết người. 2) Chất độc hại và ngộ độc Một chất gây ô nhiễm có mặt trong môi trường đến một hàm lượng nào đó thì trở nên độc. Từ tác nhân gây 6 nhiễm đã trở thành tác nhân độc (toxic elemet) và làm ngộ độc sinh vật (poisoning).
Chất độc trong môi trường có thể chia thành 2 dang:. Dạng thứ nhất : chất độc bản chất (hay chất độc tự nhiên) Dạng này gồm những chất mà dù một lượng rất nhỏ cũng gây độc cho cơ thể sinh vật ở bất cứ đâu và độc với hấu hết các sinh vật. Ví dụ nếu thuỷ ngân (Hg) vượt quá 0.5 microgram/m” không khí đã gây độc. Thuỷ ngân có nhiều trong nước biển bị ô nhiễm, cá ăn phải tích luỹ trong cơ thể sau đó người ta ăn cá sẽ bị ngộ độc.
Hiện tượng này đã xẩy ra ở vịnh Tokyo (Nhật Bản) làm ít nhất 50 người chết và hàng trăm người nhiễm độc. , Dạng thứ hai: chất độc không bản chất LVTN : GDMT THONG QUA CHƯƠNG TRÌNH HOÁ HỌC LỚP10 8 GVHD : Thạc sĩ Nguyễn Văn Binh SVTH : Hà Tú Vân Trong tự nhiên chỉ trở thành độc khi nổng độ chúng tăng cao trong môi trường. Dạng này trong điểu kiện bình thường ở nồng độ thấp thì không độc, thậm chí còn là dinh dưỡng can thiết cho thực động vật và con người, nhưng khi có néng độ cao trong dung dịch, trong môi trường vượt quá giới hạn an toàn, chúng trở nên độc. Ví dụ trong dung dịch đất (soilsolution) NH,” là chất dinh dưỡng của thực vật va vi sinh vật khi ở nổng độ thấp.
Nhưng khi vượt quá 1/500 về trọng lượng là độc. Cũng như vậy với Zn, bình thường là vi lượng cẩn thiết để nâng cao chất lượng sản phẩm nhưng khi vượt quá 0.78 % thì rất độc. Hay sắt là nguyên tố rất cần cho thực vật và động vật nhưng khi Fe** trong dung địch vượt quá 500 ppm đã gây chết cho lúa. Fe trong nước nếu vượt quá 0.3 ppm là ảnh hưởng đến sức khoẻ con người.
Khả năng gây độc còn phụ thuộc vào từng loại chất độc. Có chất gây độc không những phụ thuộc vào bản chất của chất đó mà còn phụ thuộc dang tổn tại của nó (tan, hợp chất, khí, lỏng, vô cơ, hữu cơ). Ví dụ nhôm ở dang tan Al’* thì có thể xâm nhập từ môi trường vào tế bào rễ một cách thụ động, phá vỡ các vách ngăn tế bào, phá vỡ các hệ thống enzim peroxydaza trong rễ và enzime catalaza, phosphataza trong rễ, thân, lá, gây hại cho cây. Nó còn gây bệnh lão hoá ở người, bệnh nổ mắt ở cá.
Với chi (Pb), chỉ cần một lượng nhỏ 0.5 ppm trong máu nó ức chế hệ enzime ngăn tổng hợp hemoglobine trong máu. Thuỷ ngân (Hg) gây ảnh hưởng mạnh đến thần kinh trí não. Thuỷ ngân độc hơn chì gấp 5 lần, nhất là thuỷ ngân đạng HgCI bay hơi thì rất độc, gây tổn thương ruột, thận. Tetra Ethyl chi độc gấp 100 lẫn so với chì nguyên chất, nó ở lại trong mỡ và tế bào thần kinh.
Với một lượng 20-40 ppm nó sẽ phá vỡ toàn bộ hệ thin kinh. Một chất trở thành độc không chỉ phụ thuộc vào néng độ, liều lượng của nó trong môi trường mà còn phụ thuộc vào đối tượng sinh vật chịu tác động của chất đó. Tác dụng ngộ độc (poisoned) đối với mỗi đối tượng động vật và người sẽ khác nhau. Thậm chí, nó không những phụ thuộc vào từng bộ, loài, giống sinh vật mà còn phụ thuộc vào giống di truyén gen và sức khoẻ hiện thời của từng cá thể đó.
Hơn thế nữa, nó còn phụ thuộc cả giới tính. Ví dụ, một trường hợp cả nhà ăn khoai mì (manihot - sắn) luộc có rễ tranh xuyên vào củ khoai, nấu chưa kỹ, khoai không ngâm trước khi luộc, luộc không mở vung, ăn khi đang đói, mấy đứa trẻ bị ngộ độc đầu tiên, sau đó là bà vợ và cuối cùng là ông chồng. Trong khoai mì, nhất là đầu chóp củ, cuống, vỏ hoặc chỗ rễ tranh xuyên vào chứa rất nhiều chất acid xyanyua (HCN), một chất độc nguy hiểm. 3) Nhiễm bẩn (dirty): Trong khái niệm ô nhiễm cũng phân biệt nhiễm bẩn và ô nhiễm.
Một môi trường có thể bị nhiểm bẩn, sau đó là bị ô nhiễm. Nhưng cũng có thể một môi LVTN : GDMT THONG QUA CHƯƠNG TRÌNH HOÁ HỌC LỚP10 9 GVHD : Thạc sĩ Nguyễn Van Binh SVTH : Hà Tú Vân trường bị nhiễm bẩn nhưng chưa bị 6 nhiễm. Vậy thì 6 nhiễm bao hàm cả nhiễm bẩn những nhiễm bẩn thì chưa chấc là ô nhiễm. Ví dụ ở vùng than bùn thuộc địa phân xã Biển Bạch, U Minh Thượng, nước ở đây bị nhiễm bẩn than nên có màu đen, nhưng người dân vẫn lấy nước để nấu ăn và tấm giặt.
Con người không bị ngộ độc, cây cối vẫn xanh tưới. Như vậy, môi trường nước ở đây có nhiễm bẩn nhưng chưa bị ô nhiễm. Một môi trường có bị nhiễm bẩn nhưng chưa phải là ô nhiễm, hơn thế nữa, môi trường đó có thể bj ô nhiễm nhưng chưa gây độc cho sinh vat, hoặc là chưa đến mức gây độc, hoặc là chưa có mặt đối tượng sinh vật để gây độc. Mặt khác, cũng có thể có chất gây độc nhưng sinh vật chưa bị nhiễm độc hoặc chưa đủ mức nhiễm độc.
4) Nguồn gây ô nhiễm Ô nhiễm môi trường có thể do nhiều nguồn khác nhau. Nguồn gây 6 nhiễm là nguồn thải ra các chất gây 6 nhiễm. người ta có thể có nhiều cách chia nguồn gây ô nhiễm theo tính chất hoạt động, theo khoảng cách không gian, theo nguồn gốc phát sinh. - Chia theo tính chất hoạt động thang 4 nhóm: + Do quá trình sản xuất (nông nghiệp, công nghiệp, du lịch, tiểu thủ công nghiệp).
+ Do quá trình giao thông vận tải. + Do sinh hoạt + Do tự nhiên - Chia theo phân bố không gian có 3 nhóm: + Điểm 6 nhiễm cố định, ví dụ ống khói nhà máy gây 6 nhiễm cố định + Đường ô nhiễm di động, ví dụ xe cộ gây ô nhiễm trên đường. + Vùng ô nhiễm lan toả, như vùng thành thị, khu công nghiệp gây ô nhiễm và lan tod trong thành phố đến vùng nông thôn. - Chia theo nguồn phát sinh: + Nguồn sơ cấp, là 6 nhiễm từ nguồn, thải trực tiếp vào môi trường.