Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Ô nhiễm và suy thoái môi trường là thách thức nghiêm trọng mang tính toàn cầu, gây tác động trực tiếp và nặng nề đến sức khỏe cũng như sự phát triển của trẻ em. Theo số liệu của Tổ chức Y tế Thế giới được trích dẫn trong công trình, 34% trẻ em bị mắc bệnh và 36% trẻ em dưới 14 tuổi tử vong trên thế giới có nguyên nhân bắt nguồn từ sự biến đổi các yếu tố môi trường. Tại Việt Nam, giáo dục được xác định là giải pháp chiến lược nhằm ngăn ngừa suy thoái môi trường, cụ thể hóa qua Quyết định số 1363/QĐ-TTg ngày 17/10/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt đề án "Đưa các nội dung giáo dục môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân". Trong hệ thống giáo dục, bậc học mầm non giữ vai trò nền tảng để hình thành ý thức và thói quen ban đầu cho trẻ về việc bảo vệ môi trường sống.
Tuy nhiên, trong thực tiễn chăm sóc - giáo dục mầm non, nội dung giáo dục bảo vệ môi trường vẫn còn phân tán, thời lượng dành cho hoạt động này hạn chế và chưa được tổ chức thành các hoạt động chuyên biệt. Nhiều giáo viên mầm non còn lúng túng về phương pháp và kỹ năng lồng ghép nội dung môi trường vào các hoạt động hàng ngày. Trong khi đó, các sự kiện ngày lễ, ngày hội diễn ra thường xuyên trong trường mầm non lại chứa đựng tiềm năng giáo dục trực quan, thu hút sự chú ý và hứng thú của trẻ lứa tuổi 4–5 tuổi. Xuất phát từ thực tế này, tác giả Vũ Thị Thảo đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp nhằm nghiên cứu thực trạng và xây dựng các biện pháp sư phạm khai thác ngày lễ, ngày hội để giáo dục hành vi bảo vệ môi trường cho trẻ.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là khảo sát thực trạng và đề xuất một số biện pháp giáo dục hành vi bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo 4–5 tuổi thông qua các ngày lễ, ngày hội trong trường mầm non, góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục môi trường ở bậc học này.
Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định gồm hai nhiệm vụ cụ thể:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc giáo dục hành vi bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo 4–5 tuổi thông qua các ngày lễ, ngày hội trong trường mầm non.
- Đề xuất một số biện pháp giáo dục hành vi bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo 4–5 tuổi thông qua các ngày lễ, ngày hội trong trường mầm non.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình giáo dục hành vi bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo 4–5 tuổi ở trường mầm non.
- Đối tượng nghiên cứu: Một số biện pháp giáo dục hành vi bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo 4–5 tuổi thông qua các ngày lễ, ngày hội.
- Phạm vi nội dung: Các hành vi bảo vệ môi trường của trẻ mẫu giáo 4–5 tuổi gắn với các ngày lễ, ngày hội nổi bật diễn ra trong trường mầm non (ngày kỷ niệm, lễ hội truyền thống, các chiến dịch bảo vệ môi trường) trong hoạt động có hướng dẫn của giáo viên và hoạt động tự do.
- Phạm vi khách thể và địa bàn khảo sát: 80 trẻ mẫu giáo 4–5 tuổi (thuộc 02 lớp Nhỡ A và Nhỡ B Trường Mầm non Thiệu Quang), 40 giáo viên mầm non phụ trách nhóm trẻ 4–5 tuổi thuộc Trường Mầm non Thực hành Đại học Hồng Đức (thành phố Thanh Hóa) và Trường Mầm non Thiệu Quang (huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa), cùng 15 phụ huynh học sinh.
- Phạm vi thời gian: Năm học 2017–2018.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được xây dựng trên hệ thống cơ sở pháp lý và các văn bản chỉ đạo của Nhà nước và ngành giáo dục:
- Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 (Điều 3 quy định về hoạt động bảo vệ môi trường).
- Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 25/06/1998 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
- Quyết định số 1363/QĐ-TTg ngày 17/10/2001 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án đưa giáo dục môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân.
- Quyết định số 256/2003/QĐ-TTg ngày 02/12/2003 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020.
- Công văn số 3200 ngày 21/04/2006 của Vụ Giáo dục Mầm non - Bộ Giáo dục và Đào tạo về tăng cường công tác giáo dục bảo vệ môi trường trong trường mầm non giai đoạn 2005–2010.
Về mặt lý luận, khóa luận tiếp cận khái niệm môi trường, bảo vệ môi trường và bản chất tâm lý của hành vi con người theo quan điểm của tâm lý học hoạt động (L.S. Vygotsky) - xem hành vi là biểu hiện bên ngoài của hoạt động được điều chỉnh bởi cấu trúc tâm lý bên trong và có sự tham gia của ý thức. Từ đó, "hành vi bảo vệ môi trường của trẻ mầm non" được định nghĩa là những hành động có ý thức nhằm ngăn chặn, hạn chế các tác động xấu đến môi trường sống xung quanh, biết giữ gìn vệ sinh và sử dụng tiết kiệm tài nguyên. Giáo dục hành vi bảo vệ môi trường thông qua ngày lễ, ngày hội là quá trình giáo viên sử dụng các sự kiện này có kế hoạch, có mục đích để tạo ra trải nghiệm trực tiếp, hình thành tình cảm, biểu tượng và thói quen ứng xử văn hóa của trẻ đối với môi trường.
Tác giả đã phối hợp đồng bộ các phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục:
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp tài liệu; phân loại, hệ thống hóa và khái quát hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về giáo dục môi trường mầm non.
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Sử dụng hệ thống câu hỏi in sẵn để khảo sát 40 giáo viên mầm non (phiếu gồm 14 câu hỏi) và 15 phụ huynh học sinh (phiếu gồm 11 câu hỏi) về nhận thức và thực trạng tổ chức giáo dục môi trường.
- Phương pháp quan sát: Theo dõi hoạt động sư phạm của giáo viên và các biểu hiện hành vi môi trường của trẻ trong sinh hoạt hàng ngày và khi tham gia sự kiện tại trường.
- Phương pháp đàm thoại: Trò chuyện trực tiếp với giáo viên, phụ huynh và từng trẻ (thực hiện từ 10–15 phút/trẻ trên hệ thống bài tập thực hành về thu gom rác, tiết kiệm điện nước, bảo vệ cây xanh).
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Đúc kết thực tiễn giáo dục bảo vệ môi trường tại các cơ sở mầm non trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa.
- Phương pháp thống kê toán học: Ứng dụng phần mềm Microsoft Excel để tính toán tỷ lệ phần trăm và xử lý các số liệu thu được từ bảng hỏi và bài tập khảo sát.
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG I: Cơ sở lí luận về giáo dục hành vi BVMT cho trẻ mẫu giáo 4- 5 tuổi thông qua các NLNH trong trường mầm non
Chương I tổng quan lịch sử nghiên cứu quốc tế từ Hội nghị Paris (1948), Chương trình Giáo dục Môi trường Quốc tế (IEEP, 1975) với Hiến chương Belgrade, Hội nghị Tbilisi (1977), Báo cáo Brundtland (1987), Hội nghị thượng đỉnh Trái đất Rio de Janeiro (1992) đến Nghị định thư Kyoto (1997). Tại Việt Nam, chương trình điểm lại các đề tài nghiên cứu của Viện Khoa học Giáo dục, Trường Cao đẳng Sư phạm Nhà trẻ - Mẫu giáo Trung ương 1, Trung ương 2, các công trình của các tác giả Lê Thanh Vân, Hoàng Thị Phương, Hoàng Đức Nhuận, Lê Thị Kim Anh.
Khóa luận làm rõ các khái niệm công cụ: môi trường, bảo vệ môi trường, hành vi bảo vệ môi trường, ngày lễ ngày hội. Tác giả phân loại ngày lễ ngày hội theo ba tiêu chí:
- Theo ý nghĩa: Ngày kỷ niệm dân tộc (2/9, 30/4), lễ tết (Tết Nguyên đán, Trung thu), lễ hội truyền thống địa phương, chiến dịch phong trào (vệ sinh, trồng cây), sự kiện trường lớp (khai giảng, thành lập trường).
- Theo thời gian: Sự kiện đột xuất trong ngày, sự kiện định kỳ (hàng năm, chu kỳ nhiều năm).
- Theo quy mô: Cấp địa phương, cấp vùng miền, cấp quốc gia và cấp quốc tế.
Tác giả xác định 4 yếu tố tác động đến quá trình giáo dục hành vi bảo vệ môi trường qua ngày lễ ngày hội: (1) Nội dung và phương thức tổ chức sự kiện; (2) Khả năng nhận thức và mức độ tham gia của trẻ 4–5 tuổi; (3) Phương pháp sư phạm của giáo viên; (4) Mối quan hệ phối hợp giữa gia đình và nhà trường. Nội dung giáo dục môi trường cho lứa tuổi này được khái quát thành 4 mạch kiến thức - kỹ năng: cung cấp biểu tượng về môi trường sống; mối quan hệ giữa con người và môi trường sống; sự ô nhiễm môi trường; các hành động bảo vệ môi trường.
CHƯƠNG II: Thực trạng giáo dục hành vi BVMT cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi thông qua các NLNH
Chương II phân tích việc tích hợp nội dung môi trường qua ba giai đoạn chương trình giáo dục mầm non tại Việt Nam: Chương trình Cải cách (1986), Chương trình Đổi mới (1998) và Chương trình Giáo dục Mầm non mới (Quyết định số 5205/QĐ-BGD&ĐT năm 2006 và Thông tư số 17/2009/TT-BGD&ĐT). Tác giả chỉ ra rằng cả ba chương trình đều chưa xây dựng các phương tiện, phương pháp và hướng dẫn riêng biệt cho việc tận dụng ngày lễ ngày hội để giáo dục môi trường; việc thực hiện chủ yếu mang tính lồng ghép hình thức hoặc triển khai theo phong trào.
Kết quả điều tra thực trạng nhận thức của 40 giáo viên mầm non và 15 phụ huynh ghi nhận:
- Về tính cần thiết: 75% giáo viên và 53,3% phụ huynh cho rằng giáo dục hành vi bảo vệ môi trường cho trẻ 4–5 tuổi là "rất cần thiết"; 25% giáo viên và 33,36% phụ huynh đánh giá "cần thiết". Có 6,67% phụ huynh cho là "tương đối cần thiết" và 6,67% phụ huynh cho là "không cần thiết".
- Về quan niệm ngày lễ ngày hội: 60% giáo viên và 53,33% phụ huynh chỉ coi đây là sự kiện do con người chủ động tạo ra; 22,5% giáo viên và 26,67% phụ huynh xem là sự việc thiên nhiên ảnh hưởng xã hội; tỷ lệ nhận thức đầy đủ cả hai khía cạnh còn thấp.
- Về nhận diện ưu thế của ngày lễ ngày hội: 92,5% giáo viên đánh giá nội dung sự kiện phong phú, đa dạng; 80% cho rằng sự kiện diễn ra tự nhiên, không mất công tìm kiếm; 70% nhận thấy tính tự nhiên của hoàn cảnh; 47,5% nhìn nhận sự kiện vừa là đối tượng nghiên cứu vừa là phương tiện giáo dục.
- Về biểu hiện hành vi của trẻ ở trường (theo giáo viên): 60% trẻ biết bỏ rác đúng nơi quy định, 50% đi vệ sinh đúng nơi, 42,5% không ngắt lá bẻ cành giẫm lên cỏ, 25% giữ gìn đồ dùng đồ chơi; 0% trẻ có hành vi chủ động nhắc nhở bạn cùng lớp giữ vệ sinh.
- Về biểu hiện hành vi của trẻ ở nhà (theo phụ huynh): 66,67% biết đi vệ sinh đúng nơi quy định, 33,33% bỏ rác đúng chỗ, 20% yêu quý chăm sóc động vật, 13,33% thu dọn đồ chơi sau khi chơi, và chỉ 6,67% có ý thức tiết kiệm điện, nước.
Khảo sát trực tiếp trên 80 trẻ mẫu giáo 4–5 tuổi tại Trường Mầm non Thiệu Quang qua 3 bài tập tình huống thực tế cho thấy kết quả phân hóa rõ rệt:
| Tiêu chí khảo sát |
Mức Tốt (4 điểm) |
Mức Khá (3 điểm) |
Mức Trung bình (2 điểm) |
Mức Yếu (1 điểm) |
| Tiêu chí 1: Trẻ hiểu và nhận biết được các hành vi BVMT trong cuộc sống hàng ngày |
9 trẻ (11,25%) |
17 trẻ (21,25%) |
41 trẻ (51,25%) |
13 trẻ (16,25%) |
| Tiêu chí 2: Trẻ biết thực hiện những hành vi BVMT thông qua các NLNH ở trường mầm non |
7 trẻ (8,75%) |
20 trẻ (25,00%) |
43 trẻ (53,75%) |
10 trẻ (12,50%) |
| Tiêu chí 3: Trẻ chủ động đề xuất ra những hành động, việc làm nhằm BVMT thông qua NLNH ở trường mầm non |
0 trẻ (0,00%) |
10 trẻ (12,50%) |
58 trẻ (72,50%) |
12 trẻ (15,00%) |
Dữ liệu bảng khảo sát phản ánh đa số trẻ dừng lại ở mức trung bình (chiếm từ 51,25% đến 72,50%). Đáng chú ý, ở Tiêu chí 3 về khả năng chủ động đề xuất hành động bảo vệ môi trường, không có trẻ nào đạt mức Tốt (0%), 15% xếp loại Yếu và 72,5% xếp loại Trung bình, cho thấy tính thụ động và phụ thuộc cao vào sự điều hành của cô giáo.
CHƯƠNG III: Một số biện pháp giáo dục hành vi BVMT cho trẻ MG 4-5 tuổi thông qua các NLNH
Trên cơ sở phân tích nguyên nhân thực trạng, tác giả xác định 4 nguyên tắc sư phạm định hướng việc xây dựng giải pháp:
- Đảm bảo bám sát mục tiêu giáo dục môi trường cho trẻ ở trường mầm non hiện hành.
- Dựa trên trải nghiệm thực hành trực tiếp của trẻ.
- Phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc kết hợp tiếp thu các giá trị văn hóa mới tiến bộ, loại bỏ tập quán lạc hậu gây ô nhiễm.
- Đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa nhà trường và gia đình.
Tác giả đề xuất 4 biện pháp sư phạm cụ thể theo tiến trình tổ chức sự kiện:
- Biện pháp 1: Cho trẻ làm quen các ngày lễ ngày hội thông qua việc sử dụng các tài liệu trực quan (tranh ảnh, video clip, hiện vật cụ thể giúp trẻ hình thành biểu tượng về môi trường gắn với lễ hội).
- Biện pháp 2: Kích thích trẻ tham gia tích cực vào việc chuẩn bị đón các ngày lễ ngày hội (hướng dẫn trẻ tự làm đồ dùng, đồ chơi từ nguyên vật liệu phế thải tái chế, tham gia dọn dẹp vệ sinh khuôn viên lớp học và trường học trước sự kiện).
- Biện pháp 3: Tạo cơ hội rèn luyện hành vi bảo vệ môi trường cho trẻ trong quá trình diễn ra lễ hội (tổ chức các trò chơi phân loại rác, nhắc nhở trẻ không vứt que kem, vỏ bánh kẹo bừa bãi, không giẫm đạp lên bồn hoa, cây cảnh trong suốt thời gian diễn ra phần lễ và phần hội).
- Biện pháp 4: Tạo cơ hội cho trẻ đánh giá và tự đánh giá hành vi bảo vệ môi trường sau ngày lễ ngày hội (tổ chức đàm thoại, xem lại hình ảnh thực tế sau lễ hội để trẻ nhận xét xem khu vực nào sạch, khu vực nào bẩn, tự đối chiếu hành vi của bản thân và bạn bè, từ đó khắc sâu bài học ý thức).
Kết quả nghiên cứu và đóng góp
Khóa luận đã cung cấp bức tranh số liệu thực chứng về thực trạng giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ 4–5 tuổi tại hai cơ sở giáo dục mầm non thuộc tỉnh Thanh Hóa:
- Khảo sát chỉ ra sự chênh lệch lớn giữa nhận thức lý thuyết và hành vi thực tế: Mặc dù 75% giáo viên và 53,3% phụ huynh nhận định giáo dục môi trường là rất cần thiết, nhưng tỷ lệ trẻ có thói quen thu dọn đồ chơi ở nhà chỉ đạt 13,33%, thói quen tiết kiệm điện nước chỉ đạt 6,67%, và không có trẻ nào tại trường tự giác nhắc nhở bạn giữ vệ sinh (0%).
- Khảo sát thực nghiệm trên 80 trẻ chỉ ra điểm nghẽn lớn nhất nằm ở tính chủ động: Tỷ lệ trẻ đạt mức Tốt về khả năng chủ động đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường trong sự kiện là 0%, trong khi mức Trung bình chiếm áp đảo 72,50%.
Đóng góp của khóa luận được thể hiện qua ba phương diện:
- Về mặt lý luận: Hệ thống hóa cơ sở lý luận về giáo dục hành vi bảo vệ môi trường cho lứa tuổi mẫu giáo nhỡ (4–5 tuổi) thông qua hình thức tổ chức ngày lễ, ngày hội; làm rõ các khái niệm, phân loại sự kiện và xác định 4 nội dung giáo dục môi trường trọng tâm ở bậc học mầm non.
- Về mặt thực tiễn: Khảo sát, đo lường chi tiết thực trạng nhận thức của cán bộ giáo viên, cha mẹ học sinh và mức độ thể hiện hành vi của trẻ 4–5 tuổi trên địa bàn thực nghiệm bằng hệ thống tiêu chí định lượng rõ ràng.
- Về mặt giải pháp: Xây dựng hệ thống 4 biện pháp sư phạm đồng bộ theo chu trình khép kín: chuẩn bị trước sự kiện, thực hành trong sự kiện và đánh giá rút kinh nghiệm sau sự kiện. Các biện pháp gắn liền với việc tận dụng nguyên vật liệu tái chế và các hoạt động trải nghiệm thực tế của trẻ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tồn tại một số giới hạn do điều kiện nghiên cứu của một công trình tốt nghiệp đại học:
- Địa bàn khảo sát còn hẹp, tập trung tại 02 trường mầm non trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa (Trường Mầm non Thực hành Đại học Hồng Đức và Trường Mầm non Thiệu Quang); dung lượng mẫu phụ huynh tham gia khảo sát bằng phiếu hỏi còn khiêm tốn (15 phụ huynh).
- Công trình chủ yếu dừng lại ở việc khảo sát thực trạng và đề xuất hệ thống 4 biện pháp trên cơ sở lý luận và quan sát thực tiễn, chưa tiến hành thực nghiệm sư phạm có nhóm đối chứng để đo lường định lượng mức độ chuyển biến của trẻ sau khi áp dụng các biện pháp đề xuất.
Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng:
- Triển khai thực nghiệm sư phạm ứng dụng hệ thống 4 biện pháp trên quy mô lớp học cụ thể, có đối chứng đầu vào - đầu ra để kiểm định tính khả thi và hiệu quả can thiệp.
- Mở rộng phạm vi khảo sát sang các cơ sở giáo dục mầm non thuộc các vùng địa lý khác nhau (khu vực miền núi, khu vực đô thị công nghiệp) nhằm so sánh sự khác biệt về nhận thức và thói quen môi trường của trẻ.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo thiết thực cho:
- Sinh viên và giảng viên chuyên ngành Giáo dục Mầm non: Cung cấp khung lý luận, hệ thống khái niệm công cụ và mô hình phân loại ngày lễ ngày hội theo chức năng giáo dục môi trường.
- Giáo viên mầm non đang trực tiếp giảng dạy: Tham khảo bảng tiêu chí đánh giá hành vi môi trường của trẻ 4–5 tuổi (gồm 3 tiêu chí và 4 mức xếp loại) để áp dụng vào hoạt động theo dõi sự phát triển của trẻ.
- Cán bộ quản lý chuyên môn tại các trường mầm non: Ứng dụng quy trình 4 biện pháp sư phạm để xây dựng kế hoạch tổ chức các sự kiện trong năm học (Tết Trung thu, Ngày hội đến trường của bé, Tết Nguyên đán, Ngày Môi trường thế giới) theo hướng lồng ghép nội dung trải nghiệm xanh, phân loại rác và sử dụng đồ tái chế.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận tiến hành khảo sát thực trạng trên những nhóm đối tượng nào và tại địa bàn nào?
Nghiên cứu tiến hành khảo sát trên 3 nhóm đối tượng: 40 giáo viên mầm non đang phụ trách lớp 4–5 tuổi, 15 phụ huynh học sinh và 80 trẻ mẫu giáo 4–5 tuổi (thuộc 2 lớp Nhỡ A và Nhỡ B). Địa bàn nghiên cứu gồm 02 trường trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa: Trường Mầm non Thực hành Đại học Hồng Đức (thành phố Thanh Hóa) và Trường Mầm non Thiệu Quang (huyện Thiệu Hóa), trong năm học 2017–2018.
2. Mức độ biểu hiện hành vi bảo vệ môi trường của 80 trẻ mẫu giáo 4–5 tuổi qua khảo sát đạt kết quả ra sao?
Kết quả khảo sát qua 3 bài tập tình huống cho thấy phần lớn trẻ đạt mức Trung bình: Tiêu chí 1 (nhận biết hành vi) có 51,25% trẻ đạt mức Trung bình; Tiêu chí 2 (thực hiện hành vi qua sự kiện) có 53,75% trẻ đạt mức Trung bình; Tiêu chí 3 (chủ động đề xuất việc làm bảo vệ môi trường) có tới 72,50% trẻ xếp mức Trung bình, 15,00% xếp mức Yếu và 0,00% trẻ đạt mức Tốt.
3. Khảo sát chỉ ra những biểu hiện hành vi môi trường nào của trẻ còn hạn chế ở trường và ở nhà?
Tại trường mầm non, 0% giáo viên ghi nhận trẻ có hành vi chủ động nhắc nhở bạn cùng lớp giữ gìn vệ sinh chung; tỷ lệ giữ gìn đồ dùng đồ chơi chỉ đạt 25%. Tại gia đình, theo đánh giá của phụ huynh, chỉ có 13,33% trẻ biết thu dọn đồ chơi sau khi chơi xong và 6,67% trẻ có ý thức tiết kiệm điện, nước sinh hoạt.
4. Bốn biện pháp sư phạm cụ thể được tác giả đề xuất trong Chương III là gì?
Bốn biện pháp được đề xuất gồm: (1) Cho trẻ làm quen các ngày lễ ngày hội thông qua việc sử dụng các tài liệu trực quan; (2) Kích thích trẻ tham gia tích cực vào việc chuẩn bị đón các ngày lễ ngày hội (làm đồ dùng từ phế liệu, vệ sinh trường lớp); (3) Tạo cơ hội rèn luyện hành vi bảo vệ môi trường cho trẻ trong quá trình diễn ra lễ hội (phân loại rác, bảo vệ cây cảnh); (4) Tạo cơ hội cho trẻ đánh giá và tự đánh giá hành vi bảo vệ môi trường sau khi ngày lễ ngày hội kết thúc.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Vũ Thị Thảo đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và phản ánh thực trạng giáo dục hành vi bảo vệ môi trường cho trẻ 4–5 tuổi tại hai trường mầm non trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa. Các số liệu khảo sát thực chứng cho thấy trẻ mầm non còn thiếu tính chủ động trong việc đề xuất và thực hiện các hành động bảo vệ môi trường xung quanh. Hệ thống 4 nguyên tắc và 4 biện pháp sư phạm gắn với tiến trình tổ chức ngày lễ ngày hội được đề xuất có tính thực tiễn, đóng vai trò là tài liệu tham khảo hữu ích cho việc đổi mới phương pháp giáo dục môi trường trong bậc học mầm non hiện nay.