chương I, luật BVMT năm 2005). Theo các tác giả: Hoàng Thị Thu Hương, Trần Thị Thu Hòa, Trần Thị Thanh đã đưa ra khái niệm BVMT như sau: "BVMT là những hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp, đảm bảo cân bằng sinh thái, ngăn chặn, khắc phục các hậu quả xấu do con người và thiên nhiên gây ra cho môi trường, khai thác và sử dụng hợp lí các tài nguyên thiên nhiên". Từ những quan điểm khác nhau về BVMT, chúng tôi khái quát khái niệm BVMT như sau: "BVMT là những hoạt động tích cực của con người giúp ngăn chặn và hạn chế những tác động xấu đối với môi trường làm cho môi trường thêm trong sạch, sử dụng hợp lí và tiết kiệm nguồn tài nguyên thiên nhiên, đồng thời tái tạo môi trường". Như vậy, thực chất của việc BVMT chính là thực hiện những việc làm của con người giúp ngăn chặn và hạn chế những tác động xấu đối với môi trường.
BVMT chỉ thực sự có hiệu quả khi chúng ta có những biện pháp, giải pháp kịp thời và phù hợp. Vì vậy vấn đề đặt ra với mỗi quốc gia là cần có sự quan tâm thích đáng tới môi trường, có những luật lệ, chính sách cụ thể về BVMT góp phần vì nhiệm vụ BVMT chung của toàn cầu. Trong việc BVMT, GDMT được coi là biện pháp có hiệu quả cao vì nó giúp con người có được nhận thức đúng đắn về việc khai thác, sử dụng hợp lí các nguồn tài nguyên và có ý thức trong việc BVMT. Khái niệm "Hành vi BVMT" Thuật ngữ "hành vi" được xem xét ở nhiều khía cạnh khác nhau.
Theo quan điểm của các nhà sinh học (Đại diện là E.Toocđai): Hành vi được xem xét là cách sống và hoạt động trong một môi trường nhất định dựa trên sự thích nghi của cơ thể với môi trường. Hành vi của con người bó hẹp trong các hoạt động thích nghi với môi trường để đảm bảo sự tồn tại của cá thể trong môi trường đó. Quan điểm của chủ nghĩa hành vi: Bao gồm chủ nghĩa hành vi cổ điển (G. Oat-xơn (1878-1958)), chủ nghĩa hành vi mới (Tôn-men (1886-1958)), chủ nghĩa hành vi bảo thủ (B.
Skin-nơ) cho rằng: Hành vi được thực hiện không có sự tham gia cơ bản của chủ thể, của nhân cách. Mọi hành vi đều được biểu thị bằng công thức nổi tiếng S-R (kích thích- phản ứng). Cả hai trường phái này đều cho rằng hành vi là tất cả những phản ứng hay những cách thức để con người thích nghi với môi trường. Các quan điểm trên chưa đánh giá đúng bản chất của hành vi, hạ thấp vai trò tích cực của con người.
Tâm lý học Macxit quan niệm 14 hành vi con người là cuộc sống, lao động, thực tiễn tức là hoạt động. Hành vi của con người là biểu hiện bên ngoài của hoạt động được điều chỉnh bởi cấu trúc tâm lí bên trong của chủ thể, của nhân cách.Vuwgotxki, hành vi con người được hiểu là quá trình nắm lấy các chức năng tâm lí xã hội của bản thân, tức là hành vi được hiểu là hoạt động nhằm vào bản thân để tổ chức hành vi của mình, đồng thời tham gia vào hoạt động bên ngoài, tác động lên các đối tượng bên ngoài hoặc những người khác. Hành vi của con người có sự khác biệt so với hành vi của con vật. Nét đặc trưng của hành vi con người chính là có sự tham gia điều khiển của tâm lý, ý thức.
Hành vi là những biểu hiện bên ngoài của hoạt động được điều chỉnh bởi cấu trúc tâm lí bên trong của chủ thể. Như vậy, có thể hiểu hành vi là những hành động và cách cư xử được điều chỉnh bởi chủ thể có ý thức. Nghĩa là khi chủ thể hành động nắm được cái nghĩa (logic của hành vi) và thực hiện hành vi đó theo một cái ý nhất định của cá nhân mình đồng thời có khả năng thực hiện được hành vi đó. Từ những phân tích trên, chúng tôi đưa ra khái niệm "Hành vi BVMT" như sau: "Hành vi BVMT là những hành động có ý thức của con ngƣời tác động đến môi trƣờng giúp ngăn chặn và hạn chế những tác động xấu đối với môi trƣờng làm cho môi trƣờng thêm trong sạch, sử dụng hợp lí và tiết kiệm nguồn tài nguyên thiên nhiên, đồng thời tái tạo môi trƣờng".
Khái niệm “Giáo dục hành vi BVMT cho trẻ mầm non” Giáo dục với tư cách là một hiện tượng xã hội, là hoạt động riêng chỉ con người mới có, nó thể hiện ở chỗ con người truyền thụ cho nhau tri thức để tồn tại của loài người. Giáo dục được xem như quá trình hình thành và phát triển nhân cách con người. Theo nghĩa rộng, giáo dục là một quá trình toàn vẹn hình thành nhân cách được tổ chức một cách có mục đích, có kế hoạch thông qua các hoạt động và các quan hệ giữa người giáo dục và người được giáo dục nhằm truyền đạt và chiếm lĩnh những kinh nghiệm xã hội của loài người. Theo nghĩa hẹp, giáo dục là một bộ phận của quá trình sư phạm nhằm hình thành niềm tin, lí tưởng, động cơ, hành vi, tình cảm, thái độ, những nét tính cách, những hành vi và thói quen ứng xử đúng đắn trong xã hội.
Giáo dục với nhiệm vụ đào tạo con người không những có tri thức mà cần có đủ kĩ năng cần thiết để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội. Đào tạo ra những con người làm việc trong những lĩnh vực khác nhau, tham gia vào các hoạt động có ảnh hưởng đến môi trường sống. Vì vậy công tác GDMT trong trường học có tính chất quyết định đối 15 với sự phát triển bền vững của đất nước. Giáo dục môi trường là một công cụ nhằm thúc đẩy những thái độ tích cực đối với môi trường, đồng thời cung cấp các kỹ năng giúp con người có thể phân tích và đưa ra những quyết định sáng suốt về cách cư xử của mình với môi trường.
Từ những khái niệm về môi trường, bảo vệ môi trường và các định nghĩa khác có liên quan, chúng tôi đưa ra khái niệm về giáo dục hành vi BVMT như sau: "Giáo dục hành vi BVMT là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch của nhà giáo dục nhằm hình thành ở người học cách ứng xử tích cực đối với môi trường, làm cho môi trường thêm trong sạch, sử dụng hợp lí và tiết kiệm nguồn tài nguyên thiên nhiên, đồng thời tái tạo môi trường". Mục đích của giáo dục hành vi BVMT là nhằm vận dụng những kiến thức và kĩ năng vào gìn giữ, bảo tồn, sử dụng môi trường đảm bảo bền vững cho cả thế hệ hiện tại và tương lai. Nó cũng bao hàm cả việc học tập cách sử dụng những công nghệ mới nhằm tăng sản lượng và tránh nhiều thảm họa môi trường, xóa đói, giảm nghèo, tận dụng cơ hội và đưa ra những quyết định khôn khéo trong sử dụng tài nguyên. Giáo dục hành vi BVMT là 1 quá trình cần được tiến hành từ khi con người biết cảm nhận về môi trường.
Quá trình này được bắt đầu từ lứa tuổi mầm non và được tiếp tục trong năm học phổ thông cũng như trong suốt cuộc đời trẻ. Việc đưa giáo dục BVMT vào trường mầm non là vô cùng cần thiết, giúp trẻ tạo ra những phản xạ thói quen đầu tiên về BVMT sống của mỗi cá thể, từ đó xây dựng quan niệm, nhận thức, kiến thức và kĩ chính phủ về việc "Đưa các nội dung BVMT vào hệ thống giáo dục quốc dân" đã đề cập đến giáo dục MT cho trẻ mầm non như sau: "Giáo dục BVMT cho trẻ mầm non là cung cấp cho trẻ những hiểu biết ban đầu về môi trường sống của bản thân nói riêng và con người nói chung, biết cách sống tích cực với môi trường nhằm đảm bảo sự phát triển lành mạnh về cơ thể và trí lực". Từ những khái niệm đã trình bày ở trên, chúng tôi đưa ra khái niệm "Biện pháp giáo dục hành vi BVMT cho trẻ mầm non" như sau: "Biện pháp giáo dục hành vi BVMT cho trẻ mầm non là cách thức tổ chức hoạt động của nhà giáo dục nhằm hình thành ở trẻ mầm non cách ứng xử tích cực với môi trƣờng làm cho môi trƣờng thêm trong sạch, sử dụng hợp lí và tiết kiệm nguồn tài nguyên thiên nhiên, đồng thời tái tạo môi trƣờng". 16 Trường mầm non là môi trường thuận lợi nhất để tạo ra những tiền đề đầu tiên cho việc hình thành nhân cách con người mới.
Trong đó việc phát triển ở trẻ những hiểu biết và quan tâm đến môi trường, có hành động phù hợp với lứa tuổi là 1 trong những yêu cầu cấp thiết ở bậc học này. Khái niệm “ Giáo dục hành vi bảo vệ môi trường cho trẻ 4-5 tuổi thông qua NLNH ở trường mầm non”. Trước hết chúng ta cần hiểu phương pháp, biện pháp giáo dục là gì? - Phương pháp giáo dục là hoạt động gắn bó giữa nhà giáo dục và người được giáo dục nhằm giải quyết những nhiệm vụ hình thành nhân cách con người. Trong đó, người giáo dục giữ vai trò điều khiển còn người được giáo dục giữ vai trò là chủ thể tích cực của quá trình hình thành nhân cách.
- Biện pháp giáo dục là cách tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần của một người hoặc một số người nào đó nhằm làm cho họ có được những phẩm chất và năng lực theo yêu cầu đã định ( từ điển bách khoa toàn thư). Như vậy, biện pháp giáo dục BVMT cho trẻ mầm non là cách tác động có mục đích, có kế hoạch của nhà giáo dục nhằm hình thành ở trẻ cách ứng xử tích cực đối với môi trường, giữ cho môi trường trong sạch, sử dụng tiết kiệm nguồn tài nguyên thiên nhiên đồng thời tham gia vào tái tạo môi trường. Từ những khái quát trên, chúng tôi xác định khái niệm “ Biện pháp giáo dục hành vi BVMT cho trẻ thông qua NLNH ở trường mầm non” như sau: “ Biện pháp giáo dục hành vi BVMT cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi ở trƣờng mầm non thông qua các NLNH là cách sử dụng NLNH có mục đích, có kế hoạch của giáo viên nhằm hình thành ở trẻ cách ứng xử tích cực đối với môi trƣờng, giữ cho môi trƣờng trong sạch, sử dụng tiết kiệm nguồn tài nguyên thiên nhiên, đồng thời tham gia và tái tạo môi trƣờng”. Trong quá trình giáo dục hành vi BVMT cho trẻ,giáo viên cần lưu ý lựa chọn và phối hợp linh hoạt các phương pháp sao cho phát huy được hết khả năng hoạt động và nhận thức tích cực của trẻ.