Chương 1: Cơ sở lí luận về giáo dục GTVHTT cho SV đại học sư phạm ngoại ngữ trong bối cảnh hội nhập quốc tế Chương 2: Cơ sở thực tiễn về giáo dục GTVHTT cho SV đại học sư phạm ngoại ngữ trong bối cảnh hội nhập quốc tế Chương 3: Mô hình và biện pháp giáo dục GTVHTT cho SV đại học sư phạm ngoại ngữ trong bối cảnh hội nhập quốc tế Chương 4: Thực nghiệm sư phạm CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA GIÁO DỤC GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC SƢ PHẠM NGOẠI NGỮ TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ 9 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về giáo dục giá trị văn hóa truyền thống Vấn đề GT, GD GT, văn hóa, GTVH, GTVH TT và giáo dục GTVH và GTVH TT cho thế hệ trẻ đã nhận được sự quan tâm lớn các nhà nghiên cứu nước ngoài cũng như các nhà nghiên cứu nói chung và các nhà nghiên cứu về văn hóa, GD nói riêng ở Việt Nam. Các công trình nghiên cứu về giá trị và giáo dục giá trị Có rất nhiều công trình nghiên cứu về giá trị và giáo dục giá trị. Trên thế giới, nghiên cứu về GT, có thể kể đến các nhà khoa học và các công trình tiêu biểu như sau: I.H Fitcher với quan niệm về GT: “Tất cả những gì có lợi, đáng ham chuộng hoặc đáng kính phục đối với một con người hoặc nhóm người đều có một GT” được đưa ra năm 1973 trong cuốn “Xã hội học” [89], hay M.
Khảo sát về GT trên phạm vi châu lục và thế giới có các công trình của F. Inglehart - Giám đốc chương trình điều tra GT thế giới với tên gọi của chương trình đầu tiên “Nghiên cứu GT Châu Âu” [98] năm 1981 và 6 chương trình tiếp theo từ năm 2011- 2014 nghiên cứu GT toàn cầu; hay công trình “GT châu Âu và GT Mỹ xung đột với nhau như thế nào” [96] của D. Ở Việt Nam, nghiên cứu về khái niệm trị GT phải kể đóng góp to lớn của Trần Trọng Thủy (1993) với nghiên cứu GT, định hướng GT và nhân cách [70]; của nhóm tác giả Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Thạc và Mạc Vân Trang (1995) với đề tài Giá trị - định hướng giá trị nhân cách và giáo dục giá trị [79], của Ngô Đức Thịnh (2010) với cuốn sách Làm giàu, bảo tồn và phát huy các GTVH TT Việt Nam trong đổi mới và hội nhập [66], và gần đây là Trần Ngọc Thêm (2016) với cuốn sách Hệ giá trị Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại và con đường tới tương lai [18]. Trong các công trình này, theo quan niệm của các nhà nghiên cứu quốc tế và Việt Nam, GT chỉ hàm nghĩa những gì tích cực, còn những GT tiêu cực thì được coi là những phản GT hay phi GT, khác với cách hiểu của triết học cho rằng có GT tích cực và GT tiêu cực.
Nghiên cứu về giáo dục giá trị rất được quan tâm bởi các nhà khoa học hay tổ chức nước ngoài. Điển hình phải kể đến giáo sư Linda Bennett (1998), người đã thiết lập ra trang web Citizen Education (GD công dân) của Nhật, đã chỉ ra 8 GT quan trọng cần có của thế hệ trẻ Nhật Bản, đó là: có kỉ luật, kiên trì theo đuổi mục tiêu, nhân ái, mạnh mẽ và khỏe mạnh, chăm học, thông cảm và đồng cảm, nhận thức về xã hội, hợp tác- hòa hợp [85]; hay chính phủ Úc với việc ban hành Khung Quốc Gia về GD GT cho 10 các trường học (National Framework for Values Education in Australian schools) năm 2016 với 9 GT cốt lõi cần GD cho học sinh trong nhà trường: Sự nỗ lực hết sức mình, đối xử công bằng, tự do, trung thực và đáng tin cậy, hòa nhập, trách nhiệm, thấu hiểu, khoan dung và hội nhập [105]. Ngoài ra còn có nghiên cứu của Maina Faith (2003) với tiêu đề: “Tích hợp GD GTVH vào chương trình của các trường Kenyan” (“Integrating cultural Education in Curriculum for Kenyan School”) [104], nghiên cứu của Young- Ran Roh (2004) về GD trị ở Hàn Quốc và Singapore trong thời đại thông tin và toàn cầu hóa (“Values Education in Global and Information Age in South Korea and Singapore” [108]), hay nghiên cứu về “GTVH và công việc của người giáo viên: từ quan điểm dạy học chất lượng” [103] (Values education and teachers’ work: a quality teaching perspective), của giáo sư Terence Lovat (2005), thuộc truờng ĐH Newscastle, Úc. Giáo dục giá trị trong những năm qua cũng đã nhận được sự quan tâm lớn ở Việt Nam.
Các công trình nghiên cứu của các tác giả chủ yếu tổng kết các quan niệm về GT, hệ GT, một số công trình đề xuất bảng GT hay hệ GT Việt Nam. Công trình tiêu biểu gần đây phải kể đến là: “Hệ giá trị Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế” [63] của Trần Ngọc Thêm (2017), hay “Xây dựng hệ GT Việt Nam trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế: Góp thêm một vài ý kiến nhỏ” [29] của Lương Đình Hải (2015). Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, rất nhiều tác giả Việt Nam đã trăn trở về vấn đề định hướng GT của con người Việt Nam nói chung và thanh niên Việt Nam nói riêng. Phạm Minh Hạc (2015) có công trình “Định hướng GT con người Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập” [28], Phạm Hồng Tung (2010) có ấn phẩm “Văn hóa và lối sống của thanh niên Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế” [76], nhà tâm lí học Đỗ Long (2006) với bài viết “Định hướng GT và sự phát triển của thế hệ trẻ” [41], nhóm tác giả Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Thạc và Mạc Vân Trang (1995) có công trình “Giá trị – định hướng giá trị nhân cách và Giáo dục giá trị” [79], Thái Duy Tuyên, Phan Minh Tiến (2008) có ấn phẩm "Định hướng GT con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa” [77].
Các đề tài trên đã bàn về việc xây dựng nguyên tắc cho cách tiếp cận đối với chủ đề về văn hóa và góp phần nhận diện xu hướng biến đổi GT con người Việt Nam nói chung và thanh niên nói riêng trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế hiện nay. Các công trình nghiên cứu về văn hóa, giá trị văn hóa và giá trị văn hóa truyền thống Vấn đề văn hóa, GTVH và GTVH TT cũng đã được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm. Khái niệm văn hóa đã được Taylor trình bày trong tác phẩm “Văn hóa nguyên thủy” [112] từ năm 1871 và được hoàn thiện bởi UNESCO, Tổ chức GD, Khoa học và Văn hóa thế giới trong một dịp lễ phát động thập kỉ thế giới phát 11 triển của văn hóa năm 1994 [116]. Trong một nghiên cứu khác về GT của H.
Schwartz (2012), giáo sư trường Đại học Do Thái, dựa trên cơ sở dữ liệu của giáo viên, SV từ 65 quốc gia, vị giáo sư này đã xác định được tám vùng văn hóa dựa theo bảy chiều kích: Sự hài hòa (Harmony); Sự gắn kết (Embeddeeness); Tính tôn ti, trật tự (Hierarchy); Tính quyền lực (Mastery); Năng lực tự chủ về tình cảm (Affective Autonomy); Năng lực tự chủ về tri thức (Intellectual Autonomy); Chủ nghĩa công bằng (Egalitarianism) [110] Dưới đây là sơ đồ tám vùng văn hóa dựa theo 7 chiều kích của S. Tám vùng văn hóa dựa theo 7 chiều kích Nguồn: https://www.net/figure/Cultural-map-of-world regions_fig2_274567696 Theo bản đồ này thì Việt Nam nằm ở vùng Đông Nam Á (south east Asian) nên rất gần với hai GT Sự gắn kết (Embeddeeness) và Tính tôn ti, trật tự (Hierarchy) và rất xa hai GT là Năng lực tự chủ về tri thức (Intellectual Autonomy) và Chủ nghĩa công bằng (Egalitarianism). Tuy nhiên, nghiên cứu trên mới tập trung vào chủ thể là giáo viên và SV, nên chưa thể khái quát hóa cho GTVH chung của các quốc gia được nghiên cứu. Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu Hồ Chí Minh [45], Ngô Đức Thịnh (trong công trình “Hệ GTVH Việt Nam” [67]), Đào Duy Anh (trong cuốn sách Việt Nam văn hóa sử cương [1]), Trần Ngọc Thêm (trong công trình “Hệ giá trị Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế” [63]) cũng đã đưa ra các quan niệm riêng về văn hóa.
Đặt GTVH trong mối tương quan với GT con người, Hồ Sĩ Quý (2018) đưa ra một định nghĩa ngắn gọn nhất về văn hóa “văn hóa là tổng hòa các GT người” [57]. Phạm Minh Hạc (2001) trong công trình: “Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào CNH, HĐH” [25] lại cho rằng văn hóa là hệ thống GT vật chất và tinh thần, do con người, cộng đồng, dân tộc, loài người sáng tạo ra. Khi luận bàn về GTVH Ngô Đức Thịnh (2019) cho rằng: “GTVH là do xã hội sáng tạo ra trong thời đại lịch sử, nhưng một khi hệ GTVH đã hình thành thì nó có vai trò định hướng cho các mục tiêu, phương thức và hành động của con người trong xã hội ấy” [67, tr. Còn khi luận bàn về GTVH TT, các nhà nghiên cứu có những phát biểu 12 khác nhau.
Theo Phan Huy Lê (1994), TT là tập hợp những tư tưởng, tình cảm, những thói quen trong tư duy, lối sống và ứng xử của một cộng đồng người nhất định, được hình thành trong lịch sử và trở nên ổn định, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác [40]. Theo Trần Văn Giàu (1987) GT TT hay GTVH TT là “những nguyên lí đạo đức lớn mà con người trong nước thuộc các thời đại, các giai đoạn lịch sử dựa vào để phân biệt phải trái, nhận định nên chăng, nhằm xây dựng độc lập, tự do và tiến bộ của dân tộc đó.” [24] Xét từ góc độ thời đại, Ngô Đức Thịnh (2010) cho rằng, văn hoá TT hay GT văn hoá TT được hiểu như là văn hoá và GT gắn với xã hội tiền công nghiệp, phân biệt với văn hoá, GT văn hoá thời đại công nghiệp hoá. [66] Nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập đến hệ GTVH Việt Nam truyền thống. Một trong những công trình công phu đầu tiên phải kể đến công trình nghiên cứu “GT tinh thần TT của dân tộc Việt Nam” [24] của Trần Văn Giàu từ những năm 1980.
Ngoài ra còn có Nguyễn Hồng Phong (1999) với nghiên cứu “Văn hóa phát triển” [54], Phan Ngọc (1999) trong cuốn “Bản sắc văn hóa việt Nam” [49], hay Nguyễn Quang Ngọc (2007) với công trình “Tiến trình lịch sử Việt Nam” [50].