phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận án đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về chính sách NKDV GDĐH trong thời kỳ HNQT. Chƣơng 2: Cơ sở thực tiễn về chính sách NKDV GDĐH. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện chính sách NKDV GDĐH Việt Nam trong thời kỳ HNQT. 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH NHẬP KHẨU DỊCH VỤ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP QUỐC TẾ 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề Quá trình HNQT đang diễn ra ở tất cả các quốc gia với quy mô và tốc độ rất khác nhau. Giáo dục không nằm ngoài những tác động này. Vấn đề liên quan đến luận án đã đƣợc các nhà khoa học nghiên cứu và công bố tại nhiều công trình trong nƣớc và trên thế giới. Các nghiên cứu này có thể chia theo một số tiêu thức cụ thể sau: 1.
Nghiên cứu về GDĐH trong thời kỳ HNQT Mary Louise Kearney, Giám đốc phụ trách ban thƣ ký UNESCO đã đề cập đến những thách thức hiện tại của GDĐH và SĐH nhƣ cung và cầu, chất lƣợng và hiệu quả mang lại cho cả hai phía: CSGD và ngƣời đƣợc đào tạo; chính sách đổi mới CSHT và trình độ NNL. Tác giả cũng nhấn mạnh vai trò ngày càng tăng của các trƣờng ĐH NCKH, đặc biệt là các nƣớc OECD đã đầu tƣ rất nhiều cho nghiên cứu ở các trƣờng ĐH từ những năm 1990, trong đó nghiên cứu ĐH, SĐH là nhân tố quan trọng để nâng cao chất lƣợng trong GD. Diễn đàn quốc tế “Gia nhập WTO và đổi mới GDĐH Việt Nam”, 11- 12/12/2006 tại Hà Nội, Philip Altbach cũng đã nghiên cứu và nhận định chung về tác động của GATS “GATS tác động đến những vấn đề trung tâm của GDĐH” nhƣ: tự chủ, ra quyết định, chính sách quốc gia… Và ông cũng nhận định những mặt trái của GATS: “Các thị trƣờng mở, ít nhất trong GDĐH, thúc đẩy sự bình đẳng đang tồn tại. Nếu biên giới giáo dục hoàn toàn đƣợc mở, những ngƣời cung cấp giáo dục mạnh nhất và giầu nhất sẽ thâm nhập mà không bị giới hạn.
Các nƣớc và các trƣờng ĐH không đủ sức cạnh tranh sẽ rất khó phát triển. Điều đó có nghĩa là các nƣớc đang phát triển sẽ bị thiệt thòi. Các trƣờng ĐH địa phƣơng sẽ khó cạnh tranh với những nhà cung cấp GDĐH xây dựng trƣờng ở nƣớc họ. Các nhà cung cấp DV GDĐH nƣớc ngoài sẽ chọn các mảng béo bở dễ kiếm lời nhất của thị trƣờng - thƣờng là các ngành quản trị kinh doanh, CNTT, tài chính ngân hàng,… phần còn lại dành cho các trƣờng bản xứ.
Các lĩnh vực nhƣ khoa học cơ bản đòi hỏi các phòng thí nghiệm và thiết bị tốn kém và không đem lại các điều kiện kiếm lợi trƣớc mắt, 8 sẽ bị các nhà cung cấp nƣớc ngoài bỏ qua…”. Ông viết: “Toàn cầu hóa về tri thức hiện vẫn đang hoạt động mạnh mẽ mà không cần phải khoác chiếc áo của GATS và WTO. Chúng ta sẽ tiến lên một sự toàn cầu hóa dựa trên sự bình đẳng chứ không phải chủ nghĩa thực dân mới”. Ông đã chỉ ra những nét chính trong việc hoạch định chính sách GDĐH trong thời kỳ HNQT và cam kết GATS [65].
Ngoài ra, còn phải kể đến các công trình nghiên cứu của Chiristopher Ziguras [95] và Mark A, Ashwill [106] mô tả về ảnh hƣởng của GATS đối với GDĐH của các nƣớc đang phát triển ở châu Á, về chính sách của các nƣớc XNK DV GDĐH. Ở Việt Nam cũng có nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề này, đó là Vũ Ngọc Hải [91] đã nghiên cứu vấn đề về quyền tự chủ, trách nhiệm xã hội của các trƣờng ĐH. Ông cho rằng: Quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các trƣờng ĐH ở nƣớc ta hiện nay phải đƣợc coi là động lực chủ yếu, là đòn bẩy để nhanh chóng phát triển GDĐH, là giải pháp cơ bản và hữu hiệu trong xóa bỏ cơ chế “xin cho” rơi rớt của chế độ tập trung, quan liêu, bao cấp vẫn đang tồn tại nặng nề hiện nay. Giao quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm cho các trƣờng ĐH của nƣớc ta thì chắc chắn một điều là các trƣờng có thể tự mình tạo ra cơ hội và đƣờng đi ngắn nhất, hiệu quả nhất trong đào tạo NNL đáp ứng yêu cầu của HNQT.
Tác giả Trần Văn Nhung [85] đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu, xây dựng giải pháp đào tạo cán bộ KHKT ở nƣớc ngoài từ năm 1995 đến 2005”. Cơ quan chủ trì là Viện nghiên cứu phát triển giáo dục, Bộ GD & ĐT – 2000. Đề tài đã nghiên cứu thực trạng và yêu cầu phát triển đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ giai đoạn 2010 – 2020 của đất nƣớc, nhóm tác giả xây dựng các giải pháp đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật công nghệ tại các CSĐT nƣớc ngoài theo tinh thần Nghị quyết TW2 của Đảng đến năm 2020 bằng ngân sách nhà nƣớc kết hợp với sự giúp đỡ và hợp tác nƣớc ngoài. Tuy nhiên, đề tài vẫn chƣa đƣa ra đƣợc những chính sách cho việc HTQT đối với GDĐH hay cụ thể hơn là đề tài chƣa chỉ ra chính sách NKDV GDĐH cho Việt Nam trong thời kỳ HNQT một cách có hệ thống.
Phạm Đỗ Nhật Tiến với nghiên cứu “Phát triển GDĐH Việt Nam trong bối cảnh nƣớc ta gia nhập WTO” [62] đã nghiên cứu GDĐH Việt Nam sau 9 WTO với việc tích cực thực hiện các cam kết về GATS trong lĩnh vực giáo dục. Nghiên cứu của ông cũng chỉ ra rằng nền GDĐH nƣớc ta phải thay đổi để thích ứng với các điều kiện mới; yêu cầu thay đổi đã trở thành vấn đề toàn cầu. Ngoài ra, nghiên cứu của ông cũng đã đƣa ra kịch bản về sự phát triển GDĐH Việt Nam sau WTO là dựa trên giả thiết là bao giờ, nhƣ thế nào và với điều kiện gì Việt Nam sẽ mở cửa giáo dục theo các cam kết về GATS. Tác giả Bành Tiến Long [6], cũng đã đƣa ra thực trạng quản lý nhà nƣớc về GDĐH thể hiện rất cụ thể trong Báo cáo tại diễn đàn quốc tế “Gia nhập WTO và đổi mới GDĐH Việt Nam”, Hà Nội, 12/2006: chiến lƣợc, cơ chế, chính sách phát triển GDĐH không rõ ràng, mức độ chuẩn xác không cao; nhiều chính sách đã lạc hậu không đáp ứng kịp với sự phát triển KTXH; tƣ duy quản lý Nhà nƣớc về GDĐH còn mang nặng quán tính của cơ chế bao cấp, mệnh lệnh.
chƣa phù hợp với sự đổi mới của cơ chế kinh tế và HNQT; công tác thống kê, thông tin rất yếu và thiếu chính xác; công tác kiểm tra, thanh tra còn mang nặng hình thức; hệ thống kiểm định và ĐBCL GDĐH vẫn chƣa đánh giá đƣợc chất lƣợng của các trƣờng ĐH nƣớc ta. Từ thực trạng của nền giáo dục nƣớc nhà, ông đã đƣa ra một số giải pháp cần phải thực hiện. Nghiên cứu về chính sách và chính sách GDĐH Nghiên cứu về chính sách có công trình của Keely Brain (2007) [103]. Tác giả nêu những tác động của toàn cầu hóa, CNTT và viễn thông đến các quốc gia nhƣ dòng chảy nhân lực, khả năng tạo việc làm….Xã hội hiện đại đòi hỏi những giá trị của các kỹ năng cao, các công việc phức tạp và sáng tạo.
Nhƣ vậy, hiệu quả kinh tế của các nƣớc phải dựa vào tri thức, kỹ năng, của nhân lực có trình độ. Các công trình nghiên cứu của Christopher Ziguras (2003) [97]. Công trình mô tả ảnh hƣởng của GATS đối với GDĐH của các nƣớc đang phát triển ở Châu Á và về chính sách của các nƣớc XNK GD, về những tác động tiềm tàng của chính sách nhƣ tài chính, ĐBCL, công nhận giá trị bằng cấp, tình trạng chảy máu chất xám và những câu hỏi đặt ra cho các nhà lãnh đạo giáo dục về vai trò của họ đối với nền giáo dục quốc gia. Heather Eggins [98] (2008), nghiên cứu “Các xu hƣớng và vấn đề trong GDĐH”.
Ông đã đặt GDĐH trong bối cảnh toàn cầu hóa, những ảnh 10 hƣởng của nó đối với các nƣớc trên thế giới nói chung và Châu Âu với sự phát triển của quá trình Bologa, những lợi thế do GDĐH, SĐH mang lại cho các nƣớc khi đào tạo đƣợc nhân lực trình độ cao phục vụ cho chuỗi giá trị toàn cầu. Các chính sách công về GDĐH, SĐH, đặc biệt là đối với đào tạo tiến sỹ của các quốc gia mới nổi, sức hút NNL chất lƣợng cao trên thế giới đến các nƣớc phát triển đã tác động nhƣ thế nào đến các chính sách ĐTĐH, SĐH của các nhà nƣớc. Ngoài ra, tác giả cũng đề cập đến dòng chảy SV ra nƣớc ngoài và hậu quả của nó. Cuối cùng là một số giải pháp nâng cao vai trò các trƣờng ĐH, QLCL, cải tiến chƣơng trình giảng dạy, chuyển dịch sang đào tạo tiến sỹ chuyên ngành.
Jane Knight [99] (2006), tác giả nghiên cứu “GDĐH xuyên biên giới, hƣớng dẫn thực hiện GATS về giáo dục xuyên biên giới”. Jane Knight làm việc tại trung tâm phát triển giáo dục quốc tế, Viện Ontario về nghiên cứu giáo dục, đại học Toronto, Canada. Trong công trình nghiên cứu này, bên cạnh các vấn đề về chính sách, quy định, tác giả đặc biệt nghiên cứu về tính phức tạp, rủi ro và các cơ hội bắt nguồn từ việc tăng cƣờng chuyển dịch xuyên biên giới của các chƣơng trình giáo dục và các nhà cung cấp giáo dục. Ở Việt Nam, mặc dù việc làm chính sách trong giáo dục là quan trọng, song ở nƣớc ta còn ít công trình nghiên cứu về lĩnh vực này.
Công trình nghiên cứu của Hà Thế Ngữ [40]: Ông nghiên cứu về chiến lƣợc và dự báo giáo dục có thể đƣợc xem nhƣ công trình nghiên cứu mang tính quy mô và hệ thống của nƣớc nhà đầu tiên. Song công trình của ông đã đƣợc gần 40 năm, vì vậy cũng cần phải có những nghiên cứu mới, bổ sung để phù hợp với giai đoạn hiện nay và phù hợp với những cam kết quốc tế. Đặng Bá Lãm, Trần Khánh Đức, 2002 (đồng chủ biên) cuốn sách “Phát triển nhân lực công nghệ ƣu tiên ở nƣớc ta trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [37]. Cuốn sách là kết quả nghiên cứu của một đề tài cấp nhà nƣớc.
Tuy tập trung vào việc đào tạo nhân lực có trình độ cao cho CNTT, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu và tự động hóa, nhƣng các tác giả nghiên cứu cơ sở phƣơng pháp luận và phƣơng pháp phát triển NNL KHCN nói chung, kinh nghiêm quốc tế về đào tạo NNL KHCN có trình độ cao nói riêng. Nhƣng các tác giả chƣa chỉ ra đƣợc cần phải có những chính sách ƣu tiên gì để đào tạo NNL cho những ngành ƣu tiên đó.