phần mở đầu, phần kết luận - kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục; đề tài đƣợc cấu trúc thành 2 chƣơng: Chƣơng 1 - Cơ sở lý luận về giáo dục giá trị sống cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi, và Chƣơng 2 - Thực trạng giáo dục giá trị sống cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi tại thành phố Phan Thiết (tỉnh Bình Thuận). 15 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC GIÁ TRỊ SỐNG CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 - 6 TUỔI Chƣơng này đề cập những vấn đề lý luận cơ bản về giáo dục giá trị sống cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi với các nội dung liên quan đến: giá trị sống; giáo dục giá trị sống; đặc điểm phát triển của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi; hƣớng tiếp cận giáo dục giá trị sống; nguyên tắc, phƣơng pháp giáo dục giá trị sống cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi; đặc điểm chƣơng trình giáo dục mầm non hiện hành; và nhận thức, phƣơng pháp giáo dục giá trị sống cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi của giáo viên. Giá trị sống Trƣớc khi đi vào khái niệm “giáo dục giá trị sống” thì việc làm rõ nội hàm khái niệm “giá trị sống” là thật sự cần thiết. Vì thế trong phần này, chúng tôi sẽ trình bày định nghĩa về khái niệm “giá trị sống” cũng nhƣ là cách phân loại chúng.
Khái niệm “giá trị sống” Nhiều tác giả xem khái niệm “giá trị sống” tƣơng đƣơng với khái niệm “giá trị” và linh hoạt sử dụng qua lại với nhau hai khái niệm này (xem [6], [29], [33], [40], [51]). Do đó, đồng tình với quan điểm trên, và để có cơ sở đƣa ra khái niệm “giá trị sống”, chúng tôi bắt đầu từ khái niệm “giá trị”. “Giá trị” là khái niệm đƣợc đề cập và quan tâm nghiên cứu trong nhiều ngành khoa học xã hội - nhân văn nhƣ: triết học, chính trị học, đạo đức học, tôn giáo học, mỹ học, xã hội học, tâm lý học, giáo dục học,.; vì thế đã có nhiều quan điểm đƣợc đƣa ra, tùy thuộc vào cách tiếp cận từng góc độ khác nhau ở mỗi lĩnh vực cụ thể. Nhƣng tựu chung lại, ở đây, chúng tôi quan tâm đến ba nội dung sau khi nói về “giá trị”: (i) Trƣớc hết, hiểu một cách chung nhất, “giá trị” là những điều mà con ngƣời cho là có ý nghĩa, là có ích, là quan trọng và quý giá, vì nó giúp thỏa mãn nhu cầu, mong muốn của mỗi cá nhân (mở rộng ra, là tập hợp các cá nhân, nhƣ nhóm xã hội, tập thể, cộng đồng, dân tộc, nhân loại,.
16 Với cách hiểu này, có thể kể đến quan điểm của nhà xã hội học Hoa Kỳ J. Fichter: “Tất cả cái gì có ích lợi, đáng ham chuộng, đáng kính phục đối với cá nhân, hoặc xã hội đều có một giá trị” [56: 115]. Trong “Từ điển thuật ngữ Tâm lý học”, “giá trị” đƣợc định nghĩa là phạm trù triết học, xã hội học, tâm lý học thể hiện “những gì có ích, có ý nghĩa của những sự vật, hiện tƣợng, hiện tƣợng tự nhiên hay xã hội có khả năng thỏa mãn nhu cầu và phục vụ lợi ích của con ngƣời” [9: 136]. Trong mối quan hệ này, các tác giả cho rằng giá trị là cơ sở, là phƣơng hƣớng để chủ thể đánh giá/lựa chọn khách thể, từ đó, giá trị có sức mạnh chi phối, dẫn dắt hành vi của con ngƣời, quy định mục đích của hoạt động.
Theo quan điểm của nhà xã hội học J. Macionis, thông qua “giá trị”, ngƣời ta sẽ xác định đƣợc “điều gì là đáng mong muốn, điều gì không đáng mong muốn, điều gì là tốt hay dở, điều gì là đẹp hay xấu” [24: 371]. Từ việc xem giá trị là những gì đáng giá, tốt hoặc xấu, tác giả K. Cùng chung quan điểm đó là nhận định của tác giả Tsunesaburo Makiguchi: giá trị là “sự thể hiện có tính định lƣợng mối quan hệ giữa chủ thể đánh giá và đối tƣợng của việc đánh giá” [48: 115]; trong đó tác giả nhấn mạnh sự đánh giá ở đây phụ thuộc vào tầm nhìn cũng nhƣ góc độ đánh giá, và thƣờng liên quan đến ngƣời đánh giá nhiều hơn là đối tƣợng đƣợc đánh giá.
Tác giả Nguyễn Thanh Bình thì cho rằng giá trị “là cơ sở để đánh giá thái độ hành vi đúng sai, nên có và không nên có của con ngƣời”, “là điều mà con ngƣời dựa vào để xác định mục tiêu, phƣơng hƣớng hoạt động cho mình” [1: 9]. Tƣơng tự, tác giả M. Liên quan với những nhận định trên, tác giả Phạm Quỳnh xem giá trị sống “là cơ sở của hành động sống, chi phối hành vi con ngƣời” [40: 106] và lƣu ý rằng hành vi ở đây là “hành vi lựa chọn”, chứ không phải là “hành vi theo phản xạ”, vì những hành vi đó không biểu hiện các giá trị sống. Trong một cách diễn đạt khác, tác giả B.
Shashidhar đã kết luận giá trị là mục tiêu cuối cùng của mọi ý định của chúng ta - đó là những gì chúng ta lựa chọn và khẳng định bằng hành động nhất quán [41]. (iii) Bên cạnh hai nội dung trên, một nội dung khác cũng rất đƣợc quan tâm chú ý khi nói về “giá trị” đó là mối quan hệ giữa giá trị và nhân cách. Từ quan điểm “giá trị là cái quy định mục đích của hoạt động” [15: 106], dựa trên lý thuyết hoạt động trong tâm lý học, tác giả Phạm Minh Hạc đã cho rằng tính chủ thể biểu hiện rõ nhất ở tính mục đích của hoạt động, mà mục đích của hoạt động chính là làm sao đạt tới cái mà mình coi nó là giá trị đối với bản thân. Nói cách khác, giá trị có thể coi là sự đánh giá của chủ thể đối với sự vật hiện tƣợng mà mình quan tâm, có ƣớc muốn đạt đƣợc nhằm thực hiện mục đích nào đó.
Dựa vào mức độ phù hợp giữa thang giá trị và thƣớc đo giá trị của một ngƣời so với cộng đồng và xã hội, tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng “độ phù hợp càng cao nhân cách càng lớn” [14: 24]. Chung quan điểm về mối quan hệ giữa giá trị và nhân cách, tác giả Phạm Thành Nghị từ góc nhìn tâm lý học cũng nhìn nhận giá trị là “những cái có ý nghĩa phản ánh trong niềm tin, thái độ, mục đích, cảm xúc đã đƣợc đánh giá, lựa chọn phản ánh mối quan hệ chủ thể - khách thể, trong những điều kiện lịch sử, xã hội, phụ thuộc vào trình độ phát triển nhân cách” [34: 236]. Tƣơng tự, tác giả Dƣơng Phú Hiệp cũng khẳng định giá trị là “nhân tố nền tảng góp phần quyết định nhận thức và hành động các nhân cách” [22: 220]. 18 Hay một cách trực tiếp, tác giả V.
Kotaiah đã định nghĩa giá trị là yếu tố có sức mạnh chi phối hành vi, là “cốt lõi của nhân cách mỗi ngƣời” (the core of the personality) [73: 70]. Tóm lại, trên cơ sở phân tích và kế thừa những quan điểm về giá trị nói trên, đồng thời xem xét khái niệm “giá trị sống” trong sự tƣơng đƣơng với khái niệm “giá trị” nhƣ đã trình bày ở phần đầu, trong đề tài này, khái niệm “giá trị sống” đƣợc hiểu là những điều đƣợc cho là có ý nghĩa, là quan trọng và quý giá, quy định mục đích của hoạt động sống, tạo nên cốt lõi nhân cách con ngƣời. Phân loại “giá trị sống” Tùy theo mục đích tiếp cận vấn đề, dựa trên những cơ sở, tiêu chí nhất định mà các tác giả có nhiều cách phân loại khác nhau. Chính vì thế, việc phân loại “giá trị sống” là mang tính tƣơng đối và linh hoạt.
Ở đây, chúng tôi chọn trình bày một số cách phân loại phổ biến. Tác giả Trần Ngọc Thêm (2015) nhận định một cách ngắn gọn rằng toàn bộ các giá trị có thể chia làm hai loại là “giá trị tự nhiên” và “giá trị nhân sinh”. Theo quan điểm của tác giả, trong vũ trụ, tự nhiên sinh ra con ngƣời; và nếu tự nhiên mang những giá trị của chính bản thân nó, thì đồng thời con ngƣời cũng tạo ra “giá trị nhân sinh” giúp phân biệt và đối lập (ở những mức độ khác nhau) với “giá trị tự nhiên”. Trong nghiên cứu của mình, tác giả Trần Ngọc Thêm quan tâm, chú trọng đến giá trị nhân sinh, cho rằng đó là “do con ngƣời sáng tạo ra” [45: 40], và nó bao gồm “giá trị văn hóa” và “giá trị văn minh”.
Tác giả cũng lƣu ý rằng giữa tự nhiên với con ngƣời thì tự nhiên có độ ổn định cao hơn con ngƣời và con ngƣời có độ biến đổi cao hơn tự nhiên, vì thế các loại giá trị cũng có tính ổn định và biến đổi tƣơng tự. Một cách phân loại khác khá phổ biến và đƣợc nhiều tác giả đồng tình (xem [16], [18], [19], [26], [34], [56]) là căn cứ vào sự thỏa mãn nhu cầu của con ngƣời, có thể chia giá trị sống thành “giá trị vật chất” và “giá trị tinh thần”. Giá trị vật chất là giá trị “vốn có trong các vật thể” [18: 18]. Có các giá trị vật chất có sẵn trong tự nhiên, song cũng có giá trị vật chất do lao động của con ngƣời làm ra.
Theo các tác giả, giá trị vật chất là cái có ý nghĩa thỏa mãn những nhu cầu vật chất của con ngƣời, ví dụ nhƣ giá trị sử dụng, giá trị 19 kinh tế hay giá trị trao đổi. Còn giá trị tinh thần là giá trị “do con ngƣời và cộng đồng tạo nên bằng con đƣờng trải nghiệm” [18: 28]. Nó có ý nghĩa thỏa mãn những nhu cầu tinh thần của con ngƣời, ví dụ nhƣ giá trị nhận thức, giá trị đạo đức, giá trị nhân văn, giá trị thẩm mỹ, giá trị tôn giáo,. Trong một cách nhìn khác, cũng phân loại giá trị sống thành “giá trị vật chất” và “giá trị tinh thần”, tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đinh Thị Kim Thoa và Phan Thị Thảo Hƣơng (2010) xem giá trị vật chất là giá trị đo đƣợc bằng tiền bạc dƣới góc độ kinh tế, còn giá trị tinh thần tạo cho con ngƣời khoái cảm, hứng thú và sảng khoái [29].
Qua tìm hiểu những cách phân loại nhƣ trên, theo chúng tôi, quan điểm của các tác giả khi phân loại giá trị sống là không mâu thuẫn nhau mà còn góp phần bổ sung cho nhau. Vì vậy, trong đề tài này, chúng tôi tán thành việc phân loại giá trị sống thành hai loại là “giá trị vật chất” và “giá trị tinh thần”. Chúng tôi cũng cho rằng giáo dục giá trị sống sẽ chủ yếu tập trung vào các giá trị tinh thần, bởi lẽ không giống nhƣ các giá trị vật chất tồn tại/hiện diện/sẵn có trong tự nhiên, sự vật, hàng hóa,.