phần Mở đầu và Kết luận, luận văn chia thành ba chƣơng, mỗi chƣơng có đề cập những vấn đề sau : Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiển giáo dục đạo đức Phật giáo ở nước ta hiện nay. Nội dung chƣơng nầy nhằm nêu lên một số kinh điển tiêu biểu có đề cập đến vấn đề đạo đức và thực tiễn giáo dục đạo đức Phật giáo ở nƣớc ta hiện nay đối với Phật tử. Chƣơng 2: Thực trạng giáo dục đạo đức hiện nay ở Thành phố Sa Đéc. Chƣơng nầy nêu lên một số phƣơng thức học tập của các chùa cũng nhƣ các yếu tố và hệ quả của việ dạy đạo đức trong đời sống, tiêu biểu là chùa Từ Quang và một số chùa khác ở thành phố Sa Đéc.
Chƣơng 3: Một số nhận xét đánh giá và khuyến nghị giải pháp. Chƣơng nầy đƣa ra một số nhận xét và đánh giá về ƣu, khuyết điểm và một số khuyến nghị giải pháp đối với Giáo hội Phật giáo tỉnh Đồng Tháp, với Trung ƣơng Giáo hội và lãnh đạo chính quyền các cấp. 11 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO Ở NƢỚC TA HIỆN NAY 1. Một số khái niệm đƣợc sử dụng trong luận văn 1.
Giáo dục - Tự điển Việt Nam Phổ thông : Gíáo là dạy nhƣ chỉ giáo, gia giáo. Dục là nuôi, chăm nom để bồi đắp nhƣ đức dục, thể dục [54, tr. 164] - Tự điển Hán Việt : Giáo là lệnh dạy, lệnh truyền. Mệnh lệnh của thiên tử gọi là chiếu, mệnh lệnh của thái tử và chƣ hầu gọi là giáo.
Gíáo là dạy dỗ, nhƣ giáo dục là dạy nuôi, giáo sƣ là thầy giáo.Tôn giáo gọi tắt là giáo nhƣ giáo hội [ 13, tr.Dục là ham muốn [13, tr.19], là sinh , nuôi [13, tr. 295], nuôi cho khôn lớn [13, tr.265] - Phật Quang đại từ điển : Gíáo tiếng Phạm là Sastra nghĩa là lời dạy. Ví dụ : Thánh giáo là những lời dạy bảo của bậc Thánh, Ngôn giáo là giáo pháp đƣợc biểu đạt bằng lời nói, Giáo pháp là lời nói đƣợc dùng làm phép tắc. Dục tiếng Phạn là Chanda hoặc Rajas là tác dụng tinh thần mong muốn sự nghiệp đƣợc hoàn thành [16, tr.
Dục có ba tính : thiện, ác và vô ký. Dục tính thiện là nguồn gốc phát khởi tâm tinh tiến, cần mẫn, dục mang tính ác thì thèm muốn tài vật của ngƣời khác, gọi là tham, là một trong những phiền não căn bản [16, tr. - Phật học từ điển : Gíáo dùng về động từ nghĩa là dạy dỗ, khuyên nhủ, sai khiến, dùng về danh từ nghĩa là sự giáo hóa, cuộc giáo độ, sự dạy bảo về phong hóa, về đạo lý là việc chỉ dạy cho ngƣời ta làm lành. Giáo cũng có nghĩa là nền tôn giáo, là khoa giáo dạy ngƣời tu học nhƣ Phật giáo, Nho giáo.Phật tùy lúc, tùy dịp, tùy tình ý của chúng sanh, tùy nhơn duyên mà thuyết giáo với chúng sanh [12, tr.
Vậy giáo dục ở đây chính là những lời dạy để con ngƣời đƣợc hoàn thiện. Đạo đức - Định nghĩa của John Yale trong tác phẩm “Tôn giáo là gì?’’ cho rằng:“Tôn giáo cần phải được thực hiện ngay bây giờ. Và đối với bạn, trở nên đạo đức có nghĩa là bạn sẽ cố gắng lần lượt tiến trên con đường đã chọn, và thực hiện nhiều việc, nhận thấy những sự việc đó cho chính mình bạn” [31, tr. 47] 12 - Tự điển Phật học : Đạo là chánh pháp.
Đức là đắc đạo, chẳng để cho sai lạc nền chánh pháp.Nguyên lý tự nhiên, cái chơn tánh là đạo. Vào đƣợc lòng ngƣời, cảm ứng với ngƣời là đức. Đạo đức là nền Pháp giáo mà ngƣời ta nên theo để trở nên từ thiện, để thoát khỏi các khổ não [12, tr. - Từ điển Hán Việt: Đạo là dẫn đƣa, chỉ dẫn(13, tr.
Đạo là đƣờng cái thẳng, đạo lý là một cái lẽ nhất định ai cũng phải noi đấy mà theo(13, tr. Đức : có nhiều nghĩa, thứ nhứt là cái đạo để lập thân nhƣ đức hạnh, đức tính. Thứ hai nghĩa là thiện. Làm thiện cảm hóa tới ngƣời gọi là đức chính, đức hóa.
Thứ ba nghĩa là ơn. Thứ tƣ nghĩa là cái khí tốt trong bốn mùa [13, tr. - Phật Quang Đại Từ Điển: Đạo đức là nguyên lý thiện ác, chính tà có liên quan đến hành vi của nhân loại. Đạo đức, chữ La tinh là mors, cùng nghĩa với chữ êthos(tập tục), bỏi vì tập tục là nền tảng của đạo đức và pháp luật, trong đó pháp luật là phép tắc trong hoạt động xã hội, còn đạo đức là mẫu mực tất yếu của cá nhân trong phép tắc sinh hoạt của xã hội loài ngƣời.
- Tự điển Việt Nam phổ thông: đạo đức là đạo lý và đức hạnh (ngƣời có đạo đức). Đạo đức gia: nhà đạo đức [54 ,tr.180] - Theo Tâm lý học, đạo đức là hình thái yếu tố xã hội, tổng hợp các quy tắc, nguyên tắc chuẩn mực, nhờ đó con ngƣời điều chỉnh hành vi. Đạo đức còn là những quy tắc, chuẩn mực thể hiện sự tự giác trong giao tiếp giữa ngƣời và ngƣời. Đó còn là toàn bộ các quan niệm về thiện, ác, danh dự, trách nhiệm, lƣơng tâm và lòng tự trọng về công bằng và những qui tắc đánh giá hành vi giữa ngƣời và ngƣời, giữa con ngƣời và xã hội.
Trong tinh thần căn bản của Phật giáo, thì Đức là tự mình đƣợc lợi ích, Đạo là làm lợi ích cho ngƣời khác. Nói chung, đạo đức là đạo lý và đức hạnh của con ngƣời. Đạo đức Phật giáo Theo Hòa Thƣợng Minh Châu: “Đạo đức Phật giáo là một nếp sống đem lại hạnh phúc và an lạc cho mọi loài chúng sanh đặc biệt là loài người của chúng ta” [6, tr. Và nếp sống ấy cần phải đƣợc thực hành chứ không phải để cầu xin nghĩa là phải ứng dụng nền đạo đức ấy vào thế giới loài ngƣời, nhất là con ngƣời hiện đại ngày 13 nay.
Ngài cho rằng đạo đức Phật giáo là nếp sống trong sạch và lành mạnh và chỉ nhƣ thế mới có thể đem lại đời sống hạnh phúc. Theo Tự điển Việt Nam phổ thông: Đạo có nhiều nghĩa: là đƣờng nhƣ chính đạo, là bổn phận nhƣ đạo làm ngƣời, là nói nhƣ đàm đạo, là tôn giáo nhƣ đạo Thiên Chúa, là toán quân nhƣ đạo quân, là ăn trộm nhƣ đạo tặc, là bài bản luật pháp nhƣ đạo luật.- Đức: là cá tính của ngƣời đời hợp với đạo lý nhƣ công ,dung, ngôn, hạnh là bốn đức chính của đàn bà, là ý chí làm điều lành nhƣ ăn ở có đức, là ân huệ nhƣ âm đức, là tiếng gọi thần, thánh, vua nhƣ đức Chúa, đức Vua. Đạo còn là những lý thuyết, triết thuyết, những nguyên tắc. So sánh đạo đức thông thƣờng với đạo đức Phật giáo có những điểm tƣơng tự khi kết hợp một số nghĩa nhƣ đạo đức là cá tính của ngƣời hợp với đạo lý và ý chí làm điều lành cũng nhƣ nếp sống đem lại an lạc và hạnh phúc cho mọi loài.
Tuy nhiên, giáo dục đạo đức với giáo dục đạo đức Phật giáo có nhiều điểm khác biệt. Với giáo dục đạo đức đời thƣờng sẽ giúp ngƣời đƣợc giáo dục có những đức tính tốt, hƣớng đến chân, thiện , mỹ. Đạo đức Phật giáo cũng giúp con ngƣời đến những sự tốt lành, phân biệt thiện/ ác, tốt/ xấu nhƣng còn hƣớng con ngƣời đến sự an lạc, giải thoát và hƣớng thƣợng. Phật tử - Định nghĩa của Phật Quang Đại Từ Điển : có 3 nghĩa (16, tr.4299) * Ngƣời tin và nhận theo giáo pháp của Phật, thừa kế gia nghiệp của Ngài, tức là ngƣời mong cầu thành Phật để làm cho hạt giống Phật không dứt mất.
* Chỉ cho những ngƣời tín đồ Phật giáo thọ giới Bồ tát thừa. * Chỉ cho hết thảy chúng sinh. Chúng sinh thuận theo Phật, sự nhớ nghĩ của Phật đối với chúng sanh cũng giống nhƣ cha mẹ thƣơng nhớ con cái, vả lại, chúng sinh vốn có tính Phật, có khả năng thành Phật, vì thế gọi chúng sinh là Phật tử. - Phật học từ điển: Phật tử là con của Phật về Pháp giáo, đệ tử của Phật, tín đồ Phật giáo.
- Tự điển Hán Việt : Phật dịch âm tiếng Phạn (Buddha), nói đủ phải nói là Phật đà là bậc tu đã tới cõi giác ngộ hoàn toàn, lại giáo hóa cho ngƣời đƣợc hoàn toàn giác ngộ (13, tr. Tử là con, bất luận trai gái đều gọi là tử (13, tr. 123) 14 Nói chung, Phật tử là con Phật tức những ngƣời đã quy y tam bảo, hay còn gọi là cƣ sĩ, tức những ngƣời tu tại gia, thỉnh thoảng đến chùa làm công quả. Một số ngƣời đến chùa hiện nay dù chƣa quy y tam bảo vẫn đƣợc gọi là Phật tử.
Ngoài ra, có một số thuật ngữ về Phật giáo đƣợc dùng trong bài nhƣ sau: - Hoằng pháp hay hoằng dƣơng chánh pháp là làm cho Phật pháp đƣợc lớn mạnh và phổ biến sâu rộng. - Thân giáo là lấy tự bản thân mình làm gƣơng để giáo dục ngƣời khác, nhƣ những vị đạo cao đức trọng đƣợc mọi ngƣời tôn kính và noi gƣơng. -Xƣơng minh Phật pháp: là làm cho Đạo Phật đƣợc phát triển tốt đẹp. Một số kinh điển tiêu biểu có đề cập đến vấn đề đạo đức * Kinh Giáo thọ Thi-Ca-La-Việt (Singalovada-Suttanta), [37, tr.529], thuộc Trƣờng bộ kinh tƣơng đƣơng với Kinh Thiện Sanh trong Trƣờng A Hàm Thi-Ca-La-Việt là tên ngƣời con ở thành Vƣơng Xá (Rajagaha) tại Trúc lâm (Veluvana) vâng lời cha mỗi sáng lễ sáu phƣơng và đƣợc Thế Tôn giảng giải về việc nầy: phƣơng Đông là cha mẹ, phƣơng Tây là vợ con, phƣơng Nam là sƣ trƣởng, phƣơng Bắc là bạn bè, phƣơng dƣới là tôi tớ, và phƣơng trên là Sa-môn, Bà-la-môn.
Do đó ngƣời có những bổn phận sau: + Đối với cha mẹ phải nuôi dƣỡng, làm bổn phận của ngƣời con, giữ gìn gia đình và truyền thống, bảo vệ tài sản thừa tự, làm tang lễ khi cha mẹ qua đời. Cha mẹ đối với con : phải ngăn chận con làm điều ác, khuyến khích con làm điều thiện, dạy con nghề nghiệp, cƣới vợ xứng đáng cho con, đúng thời trao của thừa tự cho con. + Đối với các bậc sƣ trƣởng đứng dậy để chào, hầu hạ thầy, hăng hái học tập, tự phục vụ thầy, chú tâm học hỏi nghề nghiệp. Đối lại, các bậc sƣ trƣởng phải huấn luyện đệ tử những gì mình đã đƣợc khéo huấn luyện, dạy cho bảo trì những gì mình đƣợc khéo bảo trì, dạy cho thuần thục các nghề nghiệp, khen đệ tử với các bạn bè quen thuộc, bảo đảm nghề nghiệp cho đệ tử về mọi mặt.
+ Chồng phải kính trọng vợ, không bất kính với vợ, trung thành với vợ, giao quyền hành cho vợ, sắm đồ nữ trang cho vợ.