CHƯƠNG 1 N TRONG 1. Khổng Tử người làng Xương Bình, nước Lỗ (nay là huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông, phía Bắc Trung Quốc). Theo truyền thuyết, thủy tổ của ông là Vi Tử, thuộc dòng dõi quý tộc. Khổng Tử sinh vào mùa đông tháng 10 năm Canh Tuất là năm thứ 21 đời vua Linh Vương nhà Chu, tức là năm 551 TCN, tên thật là Khâu, tự là Trọng Ni.
Ông sinh ra trong lúc xã hội Trung Hoa cổ đại loạn lạc triền miên, các vua chúa chuyên tâm hưởng lạc, chém giết lẫn nhau để xưng hùng, xưng bá. Đạo lý, nhân luân bị xáo trộn, vinh nhục không rõ ràng, thiện ác khó phân biệt. Cha Khổng tử là Thúc Lương Ngột là quan võ triều đình nước Lỗ. Mẹ ông là Nhan Trưng Tại hay còn gọi là Nhan Thị.
Có sách chép rằng trán ông cao và gồ lên nên mới đặt tên là Khâu; Khâu nghĩa là cái gò. Cha Khổng Tử mất khi ông lên ba tuổi, từ đó gia đình Khổng Tử sống trong cảnh bần hàn. Từ nhỏ Khổng Tử đã nổi tiếng là người siêng năng hiếu học, thích chơi trò cúng tế, ngay từ nhỏ đã theo mẹ nhận dạng mặt chữ, lúc lên năm, sáu tuổi đã tụ tập trẻ con mô phỏng trò tế lễ. Năm 15 tuổi trở đi Khổng Tử bắt đầu để chí vào việc tự học.
Năm 17 tuổi, ông đã nổi danh và được trọng vọng. Năm 19 tuổi ông lấy vợ, sinh đứa con đầu lòng đặt tên là Lý, tự Bá Ngư. Đồng thời ông nhận chức Ủy lại, coi việc cân đong thóc ở kho và làm tư chức lại coi việc nuôi bò, dê để dùng vào việc cúng lễ. Năm 22 tuổi Luan van 10 ông bắt đầu dạy học sau đó học nhạc và học đạo.
Tuy còn ít tuổi nhưng ông đã nổi tiếng là một nhà nghiên cứu tài ba. Đến năm 28, 29 tuổi, ông đến học ở Lạc ấp, là kinh sư của nhà Chu. Vào khoảng 30 tuổi, Khổng Tử đã bắt đầu nhận đệ tử dể dạy học, song Khổng Tử không bằng lòng ở đó mà lập trí để sửa trị thiên hạ. Từ năm 34 tuổi đến năm 51 tuổi ông dẫn học trò đi khắp các nước để truyền bá và tìm người sử dụng học thuyết của mình.
Có nơi ông được trọng dụng nhưng cũng có nơi không. Mãi đến năm 51 tuổi, cơ hội thuận lợi mới đến với ông. Năm ấy Lỗ Định Công cử Khổng Tử làm Trung Đô Tể, tức trưởng quan hành chính thủ đô, bắt đầu một thời kỳ nắm chính sự của Khổng Tử, ngắn ngủi mà rực rỡ, lấy Trung Đô làm mẫu mực cho bốn phương làm theo. Một năm sau ông được tăng làm Tiểu Tư Không rồi thăng làm Đại Tư Khấu, tạm đảm đương chức vụ tể tướng.
Trong vòng mấy năm Khổng Tử đã thể hiện tài chính trị nổi trội của mình trên các mặt nội chính, ngoại giao, giáo hóa lễ nhạc, chế độ hành chính, có thể nói là “nước Lỗ đại trị, chư hầu nễ phục”. Song đáng tiếc là cơ hội không thể kéo dài, vua nước Lỗ trúng kế ly gián của nước Tề, chìm đắm bởi đoàn nữ nhạc mà nước Tề đem tặng, quên lo chính sự, Khổng Tử chán ngán, phẫn uất xin từ chức, rời khỏi nước Lỗ chu du liệt quốc, với mong ước tìm được vua chúa tài giỏi, thi triển được hoài bảo của mình. Từ năm 55 tuổi đến năm 68 tuổi, Khổng Tử với lòng mong nuốn đi tìm một mãnh đất thi triển tài năng hoài bảo của mình mà trôi dạt lênh đênh suốt 14 năm, tuy đạt được danh tiếng nhưng cũng nếm đủ mùi cay đắng. Ông không tìm được chỗ nào để thi hành cái đạo của mình, không có cơ hội để thể nghiệm với đời.
Cuối đời thấy thực sự bất lực về việc làm chính trị nên năm 68 tuổi Khổng Tử trở về nước Lỗ. Ông tiếp tục dạy học, san định các sách vở đời trước như Dịch, Thi, Thư, Lễ, Nhạc của cổ nhân, viết sách Xuân Thu để bộc Luan van 11 lộ quan điểm của mình. Nhiều quan điểm của ông thể hiện qua các buổi tọa đàm mà nội dung của nó sau này được trình bày trong “Luận ngữ” do học trò của ông chép lại. Như vậy, Khổng Tử là người đầu tiên sáng lập ra trường học tư, thu nhận nhiều đồ đệ, đưa giáo dục mở rộng cho bình dân, đem tri thức văn hóa truyền bá cho nhân gian, có cống hiến thật to lớn đối với giáo dục thời cổ đại.
Đến năm 479 (Chu Kính Vương 41 – Lỗ Ai Công năm 17), ông qua đời thọ 73 tuổi. Sau khi Khổng Tử mất, nhất là qua giải pháp tàn khốc “đốt sách chôn nho” của Tần Thủy Hoàng thì sách của Khổng Tử không còn giữ được là bao. Khi đạo Nho được phục hưng (đời Hán Vũ Đế), sách Nhạc chỉ còn một thiên được đem chép vào bộ “Lễ ký” gọi là thiên “Nhạc ký”. Những sách khác được người đương thời sưu tầm, bổ sung tạo thành năm kinh là: Kinh Dịch, Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ và Kinh Xuân Thu.
Như vậy, có thể thấy Khổng Tử được sinh ra trong cảnh cơ hàn nhưng thuộc dòng dõi quyền quý mà “Bá đạo” đang lấn át “Vương đạo”, trật tự lễ pháp nhà Chu bị đạo lộn. Khổng Tử than rằng: “vua không phải đạo vua, tôi không phải đạo tôi” [26, tr. Cuộc đời Khổng Tử là cuộc đời truy tìm miệt mài. Trong các văn tuyển của mình, ông viết “Lúc mười lăm tuổi tôi đã đam mê học tập.
Khi ba mươi tuổi, tôi đã trở nên vững vàng. Được bốn mươi tuổi, tôi không còn những ngờ vực gì hơn. Và khi đã năm mươi tuổi, tôi đã tôi hòa chung với ý gió. Để khi được bảy mươi tôi có thể đi theo các ước vọng của lòng mình, và giờ tôi biết chúng đúng” [26, tr.
Cả cuộc đời ông tỏa sáng lên một nhân cách con người toàn vẹn Nhân, Lễ, Nghĩa, Tín, Dũng. Một con người chìm nổi vẫn một lòng kiên định thực hiện hoài bão của mình, sống khiêm nhường, Luan van 12 giản dị. Một con người luôn vui vẻ và tốt bụng, không hẹp hòi, cố chấp, yêu người, thương người. Ông xứng đáng là một “tấm gương nhân luân” cho cả thế hệ sau noi theo.
Sự nghiệp của Khổng Tử Khổng tử là một nhà tư tưởng lớn của nhân loại, ông đã sáng lập ra trường phái Nho gia. Học thuyết của ông - Nho giáo hay còn gọi là Nho học được sử dụng làm cơ sở lý luận của trường phái Nho gia và về sau được phát triển thành hệ tư tưởng của giai cấp phong kiến Trung Quốc và nhiều nước lân cận trong đó có Việt Nam, Hàn Quốc. Ông đã thấu sách thánh hiền để dạy bảo người đời ăn ở cho hợp luân thường đạo lý. Trước thời Xuân Thu, nhà nho được gọi là “sĩ”, chuyên học văn chương và lục nghệ góp phần trị vì đất nước.
Đến thời mình, Khổng Tử đã hệ thống hóa những tư tưởng và tri thức trước đây thành học thuyết, học thuyết này được người đời sau gắn với tên tuổi người sáng lập ra nó gọi là Khổng học hay Khổng giáo hay Nho giáo. Hồ Chí Minh trong khi trả lời một nhà báo Liên Xô đã nói: “Tôi sinh ra trong một gia đình nhà Nho An Nam… Thanh niên trong những gia đình ấy thường học Khổng giáo, đồng chí biết chắc Khổng giáo không phải là tôn giáo mà là một thứ khoa học về kinh nghiệm đạo đức và phép ứng xử” [39, tr. 477] Khổng giáo đã tiếp thu nhiều niềm tin tinh thần trong Lão giáo, Phật giáo và tục lệ dân gian cổ xưa. Nó thiên về thực hành hơn lý thuyết, hầu như nó sợ những gì là trừu tượng, mà cố đưa ra những quy chuẩn thực tế để sống giữa cuộc đời này, hơn bất cứ điều gì khác.
Giống như Khổng Tử đã viết: “Luật đạo lý không là điều gì xa lạ với thực tế đời người” [26, tr. Điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội thời kỳ Xuân Thu - Sự xuất hiện của mỗi học thuyết, tư tưởng, không phải một cách ngẫu Luan van 13 nhiên hay từ hư vô, mà luôn có cơ sở khách quan của nó. Một trong những cơ sở khách quan quan trọng mà trên đó nó ra đời, tồn tại và phát triển là những điều kiện kinh tế - xã hội. Theo quan điểm chủ nghĩa duy vật biện chứng, giữa tư tưởng và những điều kiên kinh tế - xã hội có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau.
Mỗi học thuyết luôn nảy sinh trên những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định. Các Mác từng viết: “Các triết gia không mọc lên như nấm từ trái đất, họ là sản phẩm của thời đại mình, của dân tộc mình, mà dòng sữa tinh tế nhất, quý giá và vô hình được tập trung lại trong những tư tưởng triết học” [12, tr. Quá trình hình thành và phát triển tư tưởng đạo làm người của Khổng Tử cũng không phải là một trường hợp ngoại lệ, nằm ngoài quy luật trên. Do đó, muốn nghiên cứu, tìm hiểu tư tưởng Khổng Tử chúng ta không thể không đi vào nghiên cứu, tìm hiểu điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa, chính trị của thời đại mà tư tưởng Khổng Tử nói chung cũng như tư tưởng của ông về đạo làm người nói riêng nảy sinh, hình thành và phát triển.
Khổng Tử sống trong thời kỳ Xuân Thu - Chiến Quốc (770 - 221 TCN). Đây là thời kỳ xã hội Trung Quốc đang có những chuyển biến hết sức căn bản và lớn lao. Chế độ chiếm hữu nô lệ theo kiểu phương Đông mà đỉnh cao là chế độ “Tông Pháp” nhà Chu đang suy tàn, chế độ phong kiến sơ kỳ đang hình thành. Trong xã hội Trung Quốc thời kỳ này diễn ra những biến đổi hết sức sâu sắc trên tất cả các mặt của đời sống xã hội, tạo điều kiện cho sự giải phóng tư tưởng của con người thoát khỏi thế giới quan mang tính chất thần bí, ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của tư tưởng triết học.
Thời kỳ Xuân Thu được đánh dấu bằng sự kiện Chu Bình Vương dời đô về phía Đông đến Lạc Ấp (771 TCN). Về mặt kinh tế, thời kỳ này nền kinh tế Trung Quốc đang chuyển từ thời kỳ đồ đồng sang thời kỳ đồ sắt. Sự ra đời của đồ sắt đã tạo ra một cuộc cách mạng trong công cụ sản xuất. Nó thúc đẩy Luan van 14 nền kinh tế Trung Quốc phát triển nhanh chóng trên nhiều lĩnh vực, trong đó nông nghiệp là một nền kinh tế có truyền thống lâu đời và giữ vai trò hết sức quan trọng ở Trung Quốc.