Chương 1: KHÁI QUÁT ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VÁN ĐÈ LÝ LUẬN LIEN QUAN DEN DE TÀI 1. Những van đề lý luận liên quan đến đề tài 1. Một số khái niệm công cụ Trong đời sống sinh hoạt, học tập, lao động và sáng tạo hàng ngày, con người hoạt động thông qua một hệ thống những hành vi cá nhân và xã hội nhằm định hướng và biểu đạt về đời sống tâm lý, tình cảm, thói quen, truyền thống, các hoạt động lao động, sản xuất, các quan hệ giao tiếp xã hội, giao tiếp trong đời sống tôn giáo. Trong các hành vi đó, hành vi tôn giáo được xem xét là một trong những biểu hiện đặc biệt phản ánh đời sống tinh than và đức tin của con người.
a) Khái niệm tôn giáo: Khi bàn đến tôn giáo là gì? hiện có rất nhiều cách hiểu khác nhau về tôn giáo, tuỳ thuộc vào hướng tiếp cận mà có thé đưa ra các phát biểu về tôn giáo. Người ta có thể hiểu tôn giáo từ góc độ từ nguyên của tôn giáo là Religion, bắt nguồn từ tiếng La tinh là Religio hàm chỉ sự sting bái, sting kính hoặc tôn thờ sự thiêng liêng, mối liên hệ thân thuộc hay sự ràng buộc gan kết giữa con người với than linh. Hoặc, tôn giáo đôi khi cũng được hiểu là một hệ thống thống nhất của tín ngưỡng, đức tin và văn hoá, là thế giới quan, nhân sinh quan về thế giới và con người thông qua hệ thống kinh sách, các quan niệm đạo đức hay lời tiên tri về các đắng siêu nhiên; hoặc là những hành vi, thực hành đời sống đức tin hay hành động của người tín đồ tôn thờ một vị thần, vị thánh liên qua đến những điều thiêng liêng nhất định, khó có thể chứng minh hay giải thích được. Tôn giáo còn được hiểu là những tô chức tập hợp nhiều cá nhân có cùng một niềm tin, hướng đến sự thờ phụng một vị thần, vị thánh kèm theo hệ thống các nghi lễ và những quy định về điều ran, giới cắm., thường có tư cách pháp nhân, được nhà nước và xã hội công nhận.
Người ta có thể tiếp cận tôn giáo từ nhiều góc độ của những khoa học cụ thể như Triết học, xã hội học, tâm lý học, văn hoá học, nhân học. hay cụ thé hơn là Tôn giáo học dé đưa ra những cách hiểu, các phát biểu định nghĩa về tôn giáo. Đứng trên quan điểm của tôn giáo học Mác xít, các nhà kinh điền C. Lênin đã đưa ra các phát biéu về tôn giáo, cụ thé như, trong “Lời nói dau cuốn Góp phần phê phán triết học pháp quyên của Hêghen (1843 - 1844)”, C.Mác chỉ ra: “Sự nghèo nàn của tôn giáo vừa là biểu hiện của sự nghèo nàn hiện thực, vừa là sự phản kháng chống sự nghèo nàn hiện thực ay.
Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng như nó là tinh thần của những trật tự không có tinh than. Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”[5;437-438].Ăngghen qua “Chống Đuyrinh (1876 - 1878)” đã tiép tuc chi ra dinh nghia về tôn giáo có tính kinh điển: “Tất cả mọi tôn giáo chăng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo - vào trong đầu óc của con người - của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế”[6;437]. “Luật tín ngưỡng, tôn giáo”, Điều 2, Mục 5 chỉ ra rằng: “Tôn giáo là niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và t6 chức”[53;3]. Thông qua những khái niệm và các hiểu về tôn giáo như trên, trong phạm vi nghiên cứu của dé tài này, chúng tôi hiểu là các hành vi tôn giáo thé hiện những hoạt động thờ cúng và thực hành nghi lễ của con người liên quan đến các vật thiêng.
Thể hiện thông qua một hệ thống các chuẩn mực về điều ran, giới cam cũng như các quan niệm đạo đức, luân lý, được những người có tín ngưỡng, niềm tin tôn giáo thực hành trong đời sống sinh hoạt tôn giáo hàng ngày. b) Khái niệm hành vi và hành vi tôn giáo: Hành vi nói chung được hiểu là những hoạt động có ý thức của chủ thé tác động lên khách thé là môi trường bên ngoài nhằm bộc lộc tâm lý, tình cảm đến môi trường tự nhiên, xã hội và bản thân con người: “Hành vi của con người là hành động, phan ứng của chủ thé đối với môi trường tự nhiên, xã hội và với chính bản thân mình”[62;271-275]. Thông qua hành vi con người, chúng ta sẽ thấy được các vấn đề thuộc tâm lý cá nhân và tâm lý xã hội được phản ảnh trong đó, nhất là sự chi phối và chủ đạo của yếu tô xã hội tác động tới hành vi con người. Bên cạnh những yếu tô khách quan thuộc môi trường sống và các điều kiện tự nhiên, hoàn cảnh bên ngoài thì hành vi con người còn trực tiếp bị chi phối bởi những yếu tổ bên trong thuộc về nhận thức, tư duy, thái độ, tình cảm, ý chí của chính bản thân mình.
Theo từ điển Tiếng Việt, hành vi “chỉ những hoạt động, phản ứng và cư xử của con người trong quá trình tồn tại và phát triển. Hanh vi con người là toàn bộ những phản ứng, cách cư xử, biểu hiện ra bên ngoài của một con người trong một hoàn cảnh thời gian nhất định. Hành vi là thuật ngữ khái quát chỉ những hoạt động, phản ứng, phản hồi, di chuyền và tiến trình đó có thé đo lường được của bất cứ cá nhân nao”[52; 48-49]. Thật vậy, bản thân mỗi con nguoi suốt tiến trình sinh tồn và phát triển, moi hoạt động sống được diễn ra và ý thức con người luôn có sự định hướng dé lựa chọn, thực hiện một chuỗi liên tiếp các hành vi có ý nghĩa hàng ngày theo các mục đích khác nhau nhằm thể hiện sự tôn tại và phát tiên.
Việc con người định hướng các hành vi theo mục đích sinh tồn và đạt đến mức độ hài hoà với tự nhiên là tất yếu và cần thiết gan với không gian, thời gian và các điều kiện văn hoá, lich sử, xã hội và môi trường của từng giai đoạn cụ thé. Trong hệ thống một chuỗi các hành vi sống được diễn ra hàng ngày của con người thì trong đó, hành vi được xem là sự biểu hiện và phan ảnh đời sống van hoá, tinh than va đời sống tôn giáo, ý thức niềm tin của con người. Không chỉ phản ánh những nhu cầu tâm lý, nhu cầu tinh thần mà còn cho thấy được những đặc trưng đậm nét về tính xã hội, tính cộng đồng và niềm tin nhất định nhưng vô cùng sâu sắc. Thông qua hệ thống giáo lý, giáo luật và những luân lý, đạo đức tôn giáo, hành vi tôn giáo chính là sự phản tư cho những giả trị đó.
Là cơ chế và hiện thực để những giá trị đó được thực thi bởi các chuẩn mực riêng biệt hướng con người đến tính thiện, làm lành, lánh ác, những giá trị nhân văn, tiến bộ cao cả. Các hành vi tôn giáo ăn sâu vào nếp nghĩ, đời sống, tư tưởng, tình cảm của người có tín ngưỡng, niềm tin tôn giáo. Đồng thời được lưu giữ, kế thừa, trao truyền qua nhiều thế hệ từ gia đình, dòng họ, cộng đồng làng xã đến phạm vi quốc gia, dân tộc, cộng đồng tôn giáo theo hai hình thức “thành văn” và “bất thành văn”. ` Trong đó, đối với tín đồ của mỗi tôn giáo, hành vi tôn giáo đồng thời cũng thể hiện chuỗi các chức năng xã hội phổ quát như bù dap về tinh thần, liên kết, giao tiếp và điều chỉnh, nhận thức, góp phần giúp cho người tín đồ vững tin và lựa chọn đức tin phù hợp với bản thân mình, được xã hội và người khác công nhận.
Nói tới hành vi tôn giáo, có thé lấy vi dụ đối với từng tôn giáo là hệ giá trị tôn giáo và quy định giáo lý, giới luật khác nhau, góp phần điều chỉnh và hiện thực hoá hành vi trong đời sống thực hành đức tin. Ví như, đối với người theo Công giáo đó là những quy định về hành vi trong qua Kinh Thánh, Mười điều răn và những Bộ giáo luật; đối với người theo đạo Islam (Muslim) thì những quy định về hành vi tôn giáo được thê hiện không chỉ qua Kinh Koran mà còn được bồ sung thông quan giáo luật Shariat; đối với người theo Phật giáo thì đó tuỳ thuộc vào tông phái Đại thừa, tiêu thừa mà sẽ y cứ hành vi tôn giáo thành những quy định rõ rệt trong Tam tạng kinh điển. Tất nhiên, ngoài những quy định về hành vi tôn giáo theo giáo lý, kinh sách và giới luật tôn giáo, thì hành vi tôn giáo đôi khi còn chịu sự chi phối bởi những yếu tổ thuộc về văn hoá, môi trường sống và luật tục cộng đồng mà tôn giáo du nhập vào hoặc phát sinh. c) Khái niệm hành vi sinh hoạt tôn giáo: Theo “Luật tín ngưỡng, tôn giáo”, Điều 2, Mục 10 quy định, sinh hoạt tôn giáo là “việc bày tỏ niềm tin tôn giáo, thực hành giáo lý, giáo luật, lễ nghi tôn gido”[53;3].
Như vậy hành vi sinh hoạt tôn giáo cũng được hiểu là toàn bộ những hoạt động, ứng xử, cách thức thực hành, biểu hiện ra bên ngoài của người có tín ngưỡng, niềm tin tôn giáo. Hành vi sinh hoạt tôn giáo được thé hiện qua nghỉ lễ, đời sống tu tập của chức sắc, tín đồ và người chịu ảnh hưởng bởi niềm tin tôn giáo được diễn ra tại các cơ sở thờ tự, hoặc tại gia đình trong đời song đạo. Trong các hành vi sinh hoạt tôn giáo, mỗi tôn giáo đều có quy định và lễ nghi thực hiện đặc thù. Ví dụ, đối với người theo Công giáo hay Tin Lành là đi nhà thờ cầu nguyện, thờ phượng Thiên Chúa vào mỗi địp cuối tuần.
Islam hay Cao Đài là việc đến Thánh Đường, Thánh Thất. Đối với Phật giáo, trong các hành vi sinh hoạt tôn giáo thì việc cũng là một trong những hành vi đặc biệt quan trọng, trở thành thói quen, văn hoá, truyền thống và phong tục tập quán không chỉ đối với những người quy y Tam bảo (được gọi là Phật tử), mà cả đối với những người chịu ảnh hưởng bởi văn hoá Phật giáo, từ bao đời nay bám chắc, sâu rễ trong tâm thức và hành vi nhiều người dân Việt Nam.