CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP VÀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP 1. Một số khái niệm cơ bản có liên quan đến đề tài nghiên cứu 1. Khái niệm đạo đức Đạo đức là là một vấn đề dành được sự quan tâm của nhiều lĩnh vực khoa học và của nhiều nhà khoa học.
Mỗi lĩnh vực khoa học, nhà khoa học lại đề cập đến đạo đức ở những khía cạnh với những phạm vi nội dung khác nhau: Trong các Giáo trình về đạo đức học, có đưa ra một số định nghĩa, quan điểm về đạo đức như sau: Một là: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tổng hợp những quy tắc, những nguyên tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ nó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người và tiến bộ xã hội trong quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân và xã hội” [10; tr. Hai là: “Đạo đức là toàn bộ những quy tắc, chuẩn mực nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người với nhau trong quan hệ xã hội và quan hệ với tự nhiên” [10; tr. Ba là: “Đạo đức là hệ thống những quy tắc, chuẩn mực biểu hiện sự tự giác trong quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với cộng đồng xã hội, với tự nhiên và với bản thân mình” [10; tr. Còn trong Luận án Tiến sĩ Giáo dục học, Nguyễn Anh Tuấn, Đạo đức được định nghĩa: “Đạo đức bao gồm những chuẩn mực hành vi đạo đức của con người theo hướng thiện, tránh hướng ác.
Mỗi một xã hội, mỗi một nhóm xã hội và một cá nhân có thể lý giải cái thiện và cái ác theo những cách khác nhau tùy thuộc vào quan niệm sống và lợi ích của mình” [40; tr. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong Từ điển Triết học thì “Đạo đức là một trong những hình thái sớm nhất của ý thức xã hội, bao gồm những nguyên lý (đạo lý), qui tắc, chuẩn mực điều tiết hành vi của con người trong mối quan hệ với người khác và với cộng đồng (gia đình, làng xóm, giai cấp, dân tộc hay toàn bộ xã hội). Căn cứ vào những qui tắc ấy, người ta đánh giá hành vi, phẩm giá của mỗi người bằng các quan niệm về thiện và ác, chính nghĩa và phi nghĩa, nghĩa vụ, danh dự” [33, tr. Trong Giáo trình Triết học Mác - Lênin thì “ý thức đạo đức là toàn bộ những quan niệm về thiện và ác, lương tâm, trách nhiệm, hạnh phúc, công bằng.
và về những quy tắc đánh giá, điều chỉnh hành vi ứng xử giữa cá nhân với xã hội, giữa cá nhân với cá nhân trong xã hội” (3, tr. Có thể liệt kê rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về đạo đức, nhưng tựu chung lại, dù theo cách định nghĩa nào thì đạo đức cũng được xem là một hiện tượng xã hội, thực hiện các chức năng cơ bản sau: Chức năng định hướng giáo dục, chức năng điều chỉnh hành vi và chức năng kiểm tra, đánh giá. Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội có quan hệ chặt chẽ với các hình thái ý thức xã hội khác: Chính trị, pháp luật, khoa học, tôn giáo. Đạo đức thề hiện ở các quan niệm về thiện và ác, hạnh phúc, nghĩa vụ, lương tâm, danh dự, lẽ công bằng,.
Những phạm trù này xoay quanh hạt nhân là những nguyên lý và các khái niệm, phạm trù triết học cơ bản và biểu thị cụ thể thành một hệ thống chuẩn mực đạo đức. Hệ thống quan niệm về đạo đức này cũng thay đổi tùy theo sự thay đổi của chế độ chính trị - xã hội và sự biến đổi của điều kiện kinh tế. Tuy nhiên, giữa các hình thái kinh tế - xã hội, chế độ chính trị - xã hội khác nhau thì vẫn có ít nhiều quan niệm về đạo đức giống nhau, hoặc là về ngôn từ hoặc là cả về nội dung chủ yếu. Về cơ bản, “xã hội nào thì đạo đức ấy”.
Trong đạo đức của các chế độ chính trị - xã hội khác nhau cũng có một số vấn đề được gọi là “tính nhân loại phổ 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com biến của đạo đức”. Ví dụ như: Lòng nhân ái, lương tâm; lòng tự trọng, khiêm tốn, lễ độ.Hệ thống các quan niệm, chuẩn mực đạo đức được biểu hiện, tồn tại dưới hình thức những hành vi và thực tiễn đạo đức sống động của những cá nhân cụ thể vận hành ý thức đạo đức ấy và kết đọng biểu hiện trong nền văn hóa - xã hội, đặc biệt trong lối sống, phong tục tập quán, ca dao, tục ngữ, cách đối nhân xử thế,. trong học thuyết (tư tưởng) về đạo đức. Đạo đức của mỗi con người được thể hiện thông qua hành vi đạo đức.
Hành vi đạo đức là hành động tự giác được thúc đẩy bởi một động cơ có ý nghĩa về mặt đạo đức. Hành vi đạo đức chịu sự quy định bởi các yếu tố tâm lý: Chủ thể hành vi đạo đức (toàn thể nhân cách cụ thể và giáo dục đạo đức thông qua tổ chức cho người được giáo dục tham gia vào các hành vi đạo đức và giáo dục toàn bộ nhân cách cho con người); tính sẵn sàng hành động có đạo đức; niềm tin đạo đức; xu hướng đạo đức; phẩm chất, ý chí và và phương thức hành vi. Hành vi đạo đức có mối quan hệ chặt chẽ với nhu cầu đạo đức. Nhu cầu đạo đức là một bộ phận trong hệ thống nhu cầu cá nhân.
Trong mỗi một điều kiện nhất định, nhu cầu đạo đức sẽ nổi bật lên và dần xác định được đối tượng để thỏa mãn nhu cầu đó. Khi đối tượng được xác định tức là động cơ đạo đức được hình thành. Động cơ đạo đức chính là yếu tố thúc đẩy chủ thể thực hiện hành vi đạo đức. Trong quá trình đó, nhân cách của con người được bộc lộ và hình thành.
Khái niệm nghề nghiệp Theo Từ điển Tiếng Việt, “Nghề nghiệp là một công việc mà người ta thực hiện trong suốt cuộc đời” [7; tr. Ví dụ: Nghề dạy học, nghề Y, nghề kinh doanh. Nghề nghiệp không chỉ đảm bảo cuộc sống mà còn tôn vinh con người làm việc trong lĩnh vực nghề nghiệp đó. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Bất cứ một loại hình nghề nghiệp nào cũng có đối tượng quan hệ trực tiếp của nó.
Dựa trên điểm này, người ta đã chia nghề nghiệp thành bốn loại sau: - Nghề quan hệ với kỹ thuật (thợ lắp máy, sửa chữa máy móc, gia công); - Nghề quan hệ với tín hiệu (thợ sắp chữ, sửa bản in, đánh máy, mật mã); - Nghề quan hệ với động vật và thiên nhiên (chăn nuôi, thú y, địa chất); - Nghề quan hệ trực tiếp với con người (cán bộ quản lý, tuyên huấn, thầy thuốc, bán hàng, sư phạm, hướng dẫn viên du lịch) Dựa trên trình độ chuyên môn đòi hỏi, có thể phân loại nghề nghiệp như sau: - Các nghề không chuyên môn hóa: Những nghề này chỉ cần sự thích ứng trong khoảng thời gian ngắn với những yêu cầu của lao động thấp (chỉ cần đạt được một số ít tri thức và kỹ xảo nghề nghiệp). Ví dụ: Nghề bốc dỡ; vận chuyển nguyên liệu; vật liệu. Đây là những nghề sử dụng việc mang, vác trực tiếp hoặc nhờ các phương tiện nửa cơ giới; - Các nghề nửa chuyên môn hóa (là những nghề đòi hỏi một trình độ chuyên môn hạn chế, các tri thức và kỹ xảo nghề nghiệp chỉ đủ để thực hiện những thao tác đơn giản hay những thao tác được chuyên biệt hóa một cách chặt chẽ); - Các nghề chuyên môn hóa (là những nghề đòi hỏi một quá trình đào tạo nghề nghiệp chính quy, cá nhân được nhận chứng chỉ công nhận tay nghề do các cơ sở đào tạo cấp. Trên cơ sở đó, người lao động được nhận vào làm việc thuộc lĩnh vực nghề nghiệp tương ứng.
Các chứng chỉ nghề nghiệp có thể chứng nhận một trình độ chuyên môn ở mức cơ sở, trung cấp và đại học). Lựa chọn nghề nghiệp là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với cá nhân mà đối với cả xã hội. Nó không chỉ đơn thuần là sự lựa 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chọn một công việc cụ thể nào đó để nuôi sống bản thân, đóng góp cho gia đình và xã hội, mà đó là sự lưạ chọn một cách sống, lối sống cho tương lai. Thực tế cho thấy, không phải tất cả thanh niên, sinh viên đều lựa chọn đúng đắn nghề nghiệp.
Theo các chuyên gia về tư vấn nghề nghiệp, có hai nguyên nhân dẫn đến sai lầm trong lựa chọn nghề nghiệp, đó là: Thứ nhất, thái độ không đúng đối với các tình huống khác nhau của việc chọn nghề nghiệp, cụ thể: Thái độ đối với việc chọn nghề nghiệp như là đối với việc lựa chọn một nơi cư trú suốt đời; những thành kiến về nghề nghiệp, ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp của nghề nghiệp, sự say mê chỉ xuất phát từ mặt bên ngoài hay một mặt cục bộ nào đó của nghề nghiệp. Thứ hai, thiếu tri thức, kinh nghiệm, thông tin về các tình huống nghề nghiệp, cụ thể đồng nhất môn học với nghề nghiệp, những biểu tượng lỗi thời về tính chất lao động của lĩnh vực nghề nghiệp; không hiểu về năng lực và động cơ của bản thân; không đánh giá đúng về những đặc điểm thể chất, thiếu xót của bản thân khi lựa chọn nghề nghiệp. Việc lựa chọn nghề nghiệp là rất quan trọng và phức tạp. Về phía cá nhân phải có sự lựa chọn một cách tự giác, có suy nghĩ chín chắn.
Về phía xã hội cần có sự hướng dẫn, định hướng nghề nghiệp trên cơ sở kết hợp các yếu tố: Nguyện vọng, năng lực của cá nhân; những đòi hỏi của nghề nghiệp; những yêu cầu của xã hội đối với các loại hình nghề nghiệp. Đào tạo nghề nghiệp được hiểu là toàn bộ các quá trình học tập của con người và những tích lũy của cá nhân về kiến thức, kỹ xảo và các đặc điểm tâm lý. Ngoài ra, đào tạo nghề nghiệp còn được hiểu là toàn bộ các hoạt động, được triển khai theo cá nhân hay tập thể, một cách ngẫu nhiên hay có tổ chức. Đào tạo nghề nghiệp được tiến hành thông qua các hình thức sau: Dạy nghề, hoàn thiện nghề nghiệp, chuyên môn hóa nghề nghiệp, đào tạo bằng kinh nghiệm thông tin nghề nghiệp.
Ba hình thức đầu được 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com xem là các giai đoạn của việc đào tạo nghề nghiệp chính quy. Hai hình thức sau có thể gặp cả trong việc đào tạo nghề nghiệp chính quy và trong đào tạo nghề nghiệp phi chính quy.