phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương, 7 tiết. 12 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO THANH NIÊN CỦA ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH 1. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 1. Khái niệm đạo đức Ở phương Tây, danh từ đạo đức bắt nguồn từ tiếng Latinh là mos, moris, nghĩa là lề thói.
Ngoài ra, còn một danh từ nữa cũng hay được sử dụng là ethicos, có gốc từ chữ Hy Lạp cũng có nghĩa là lề thói, tập tục. Theo nghĩa đó, khi nói đến đạo đức là nói đến những lề thói, tập tục biểu hiện mối quan hệ nhất định giữa người với người trong giao tiếp với nhau hàng ngày. Ở phương Đông, người Trung Quốc cổ đại sớm đưa ra các học thuyết về đạo và đức của họ. Theo đó, Đạo có nghĩa là con đường, đường đi, về sau khái niệm này được vận dụng trong triết học nhằm chỉ con đường của tự nhiên.
Sau đó, đạo không chỉ là con đường của tự nhiên, mà còn có nghĩa là đường sống của con người trong xã hội. Đức dùng để nói đến nhân đức, đức tính, là biểu hiện của đạo nghĩa, là nguyên tắc của luân lý. Như vậy, đạo đức được hiểu như những nguyên tắc, các quy định, các chuẩn mực xã hội nhằm điều tiết hành vi của con người mà mỗi người sống trong đó cần phải tuân theo. Từ cách tiếp cận mácxít, có thể hiểu: Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội [40, tr.
Đạo đức còn là tổng hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực điều tiết hành vi trong mối quan hệ giữa con người với con người, con người với tự 13 nhiên, giữa cá nhân với xã hội. Nó được phát triển, bị ảnh hưởng nhiều bởi các chế độ kinh tế - xã hội khác nhau. Trong quá trình phát triển đó, cùng với sự vận động biến đổi của tồn tại xã hội, đạo đức cũng có những biến đổi, như các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác đã từng nói rằng, “Từ dân tộc này sang dân tộc khác, từ thời đại này sang thời đại khác, những quan niệm về thiện và ác đã biến đổi nhiều đến mức chúng thường trái ngược hẳn nhau”[46, tr. Có thể thấy rằng, thứ nhất, với tư cách hình thái ý thức xã hội, phản ánh tồn tại xã hội, đạo đức chịu ảnh hưởng của tồn tại xã hội.
Tuy nhiên, ở đây, có thể thấy rằng, quan hệ giữa kinh tế với đạo đức không phải là quan hệ đơn trị, một chiều. Vì vậy, không phải mọi biến đổi nào đó trong cơ sở kinh tế cũng đều nhất thiết và ngay lập tức dẫn đến sự biến đổi tương ứng trong đạo đức. Không phải mọi sự phát triển kinh tế nào cũng dẫn đến sự tiến bộ đạo đức. Hơn nữa, đạo đức còn bị ảnh hưởng triết học, chính trị, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo,… nghĩa là của toàn bộ đời sống tinh thần.
Thứ hai, với tư cách là những nguyên tắc, chuẩn mực xã hội … điều tiết hành vi con người, người nào thực hiện đúng những nguyên tắc, chuẩn mực đó được coi là có đạo đức, được xã hội ủng hộ, biểu dương và ngược lại. Giáo dục đạo đức Có nhiều quan niệm khác nhau về giáo dục đạo đức, song có thể coi “giáo dục đạo đức là quá trình tác động có mục đích của chủ thể giáo dục đến đối tượng giáo dục để hình thành trong họ những yếu tố, tình cảm, niềm tin, lý tưởng và tất cả được thể hiện ở những hành vi đạo đức” [2, tr. Như vậy, giáo dục đạo đức không chỉ làm cho con người nhận thức đúng các chuẩn mực đạo đức, các giá trị đạo đức mà còn thông qua đó để hình thành niềm tin và tình cảm đạo đức. Giáo dục đạo đức là một trong những hoạt động nhằm góp phần chuyển đạo đức xã hội thành đạo đức cá nhân.
Đây cũng là quá trình mang những tri 14 thức, kinh nghiệm, chuẩn mực đạo đức xã hội thành những phẩm chất đạo đức cá nhân, làm phát triển ý thức cũng như năng lực đánh giá và thực hiện hành vi đạo đức, năng lực tham gia vào các quan hệ đạo đức xã hội của cá nhân. Giáo dục đạo đức góp phần hình thành những quan điểm cơ bản nhất, những nguyên tắc, quy tắc và chuẩn mực đạo đức trong từng cá nhân cụ thể; giúp họ xác lập khả năng lựa chọn, đánh giá các hiện tuợng xã hội. Giáo dục đạo đức cũng góp phần tích cực trong việc kế thừa và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống. Những giá trị đạo đức truyền thống chỉ có thể được các thế hệ sau tiếp nhận thông qua giáo dục đạo đức như: thông qua giáo dục tình yêu quê hương đất nước, lòng tự hào dân tộc, thế hệ trẻ sẽ tiếp nhận được những giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc như lòng yêu nước, yêu hòa bình, tôn trọng đạo lý, tinh thần đoàn kết…Nhờ các hoạt động giáo dục đạo đức mà các thế hệ sau luôn kế thừa và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc và nhờ vậy, các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc ta không bị mai một.
Quan điểm này cũng được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ trong Di chúc, theo Bác, tương lai của đất nước, của dân tộc nằm ngay trong tay các thế hệ thanh niên: “Thanh niên là người tiếp sức cách mạng cho thế hệ thanh niên già, đồng thời là người dìu dắt thế hệ thanh niên tương lai” [59,tr. Bên cạnh đó, giáo dục đạo đức cũng giúp cá nhân hoàn thiện nhân cách của mình. Người ta sinh ra là người, nhưng nhân cách chỉ hình thành trong hoạt động và giao tiếp. Về thực chất, đó là quá trình xã hội hóa cá nhân, cá nhân tiếp thu các giá trị văn hóa, đạo đức của gia đình, cộng đồng, xã hội để có thể gia nhập vào xã hội.
Do vậy, không chỉ dừng lại ở bồi dưỡng nhận thức về chuẩn mực đạo đức xã hội mà giáo dục đạo đức còn góp phần định hình và phát huy, hoàn thiện nhân cách, các chuẩn mực hành vi đạo đức cần thiết của con người như: tri thức, niềm tin; tình cảm, thái độ; hình thành cho mỗi người 15 những kĩ năng, hành vi, lối sống cho phù hợp với các chuẩn mực đạo đức. Do đó, nhân cách, đạo đức con người, một phần được bổ sung, phát triển, hoàn thiện qua quá trình giáo dục, rèn luyện. Điều này thể hiện rõ trong câu thơ của Bác Hồ: “Hiền dữ phải đâu là tính sẵn/ Phần nhiều do giáo dục mà nên”[64] (Bài thơ Nửa đêm). Nói đến giáo dục đạo đức là nói đến chủ thể, nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục.
Về chủ thể giáo dục: tùy theo phạm vi, quy mô, và những điều kiện lịch sử cụ thể khác nhau, chủ thể giáo dục đạo đức là khác nhau. Song, về cơ bản, một cách chung nhất, người ta thường cho rằng, các chủ thể giáo dục đạo đức là gia đình, nhà trường và xã hội. Một cách cụ thể hơn, trong gia đình, chủ thể giáo dục đạo đức là ông bà, cha mẹ, anh chị… Trong nhà trường, đó là thầy cô giáo, các đoàn thể… Ở xã hội, chủ thể giáo dục có thể là các đoàn thể, các tổ chức chính trị - xã hội, truyền thông,… Về nội dung giáo dục đạo đức: tùy theo mục tiêu của các chủ thể giáo dục, nội dung giáo dục đạo đức có sự khác nhau giữa các quốc gia, dân tộc; giữa các thời kỳ lịch sử khác nhau. Ví dụ, như ở phương Đông thời kỳ phong kiến, nội dung giáo dục đạo đức tập trung vào những nội dung như “nhân,lễ, nghĩa, trí, tín”… Về phương pháp và hình thức giáo dục đạo đức: phương pháp đàm thoại, diễn giải, thi đua, nêu gương, kết hợp giữa lý luận và thực tiễn… Trong công tác giáo dục, đối tượng giáo dục cũng là một nhân tố quan trọng trong giáo dục.
Bởi các chủ thể giáo dục dù có nội dung, phương pháp giáo dục hay đến thế nào đi chăng nữa mà đối tượng giáo dục không tiếp thu thì quá trình giáo dục cũng khó đạt hiệu quả như mong muốn. Đây chính là quá trình tự giáo dục của đối tượng giáo dục. Tầm quan trọng và nội dung giáo dục đạo đức cho thanh niên của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh 1. Tầm quan trọng của việc giáo dục đạo đức cho thanh niên Hiện nay theo Luật Thanh niên có hiệu lực từ ngày 01/07/2006 thì “Thanh niên quy định trong Luật này là công dân Việt Nam từ đủ mười sáu tuổi đến ba mươi tuổi”.
Với độ tuổi từ 16 đến 30, thanh niên có những đặc điểm cơ bản sau: Có sự phát triển nhanh chóng về thể chất, tâm lý và trí tuệ, có mặt trong mọi lĩnh vực hoạt động xã hội, có quan hệ gắn bó mật thiết với tất cả các giai cấp, tầng lớp trong xã hội; là lực lượng xã hội to lớn đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc. Thanh niên tiếp thu học vấn và giáo dục từ gia đình, nhà trường để bắt đầu cuộc sống độc lập trong xã hội với một nghề chuyên môn nhất định và một việc làm cũng như chỗ làm việc cụ thể. Đồng thời, thanh niên, một mặt, tiếp nhận giáo dục xã hội, từ đó, hình thành thế giới quan, nhân sinh quan của mình; mặt khác, có khả năng chuyển hóa giáo dục - đào tạo của xã hội để tạo nên những phẩm chất riêng của mình. Một trong những đặc điểm nổi bật của thanh niên là những người giàu ước mơ, hoài bão, luôn có nhu cầu tìm hiểu, thích khám phá, năng động, sáng tạo, thích giao tiếp, thích tham gia các hoạt động xã hội, có nhu cầu cao về tình bạn, tình yêu nam nữ.
Mặt khác, thanh niên ngày nay do điều kiện sinh hoạt vật chất ngày càng được nâng cao nên con người sinh lý, tố chất sinh học phát triển, nhưng những phẩm chất xã hội thì chưa hoàn thiện, chưa ổn định vững vàng.